Tổng quan nghiên cứu

Tân Sơn là huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ với tổng diện tích tự nhiên đạt trên 68.000 ha, trong đó có 14/17 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn. Nhờ điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc trưng, địa phương đã phát triển diện tích chè xấp xỉ 3.000 ha, đứng thứ hai toàn tỉnh Phú Thọ, với diện tích kinh doanh đạt gần 2.700 ha. Năm 2014, năng suất búp tươi bình quân của huyện đạt gần 10 tấn/ha, đem lại tổng sản lượng gần 26,5 ngàn tấn. Mặc dù sở hữu tiềm năng nông nghiệp lớn, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện thời điểm cuối năm 2008 vẫn ở mức rất cao là 52,42%, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 95% tổng số hộ nghèo.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ thực trạng tổ chức và hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất chè cho hộ nghèo, chỉ ra các nút thắt về phân bổ đất đai, cung ứng vật tư giống vốn và tổ chức tiêu thụ. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá toàn diện các chính sách hỗ trợ hộ nghèo trồng chè giai đoạn 2015-2017 tại các xã trọng điểm, đồng thời đề xuất gói giải pháp đột phá đến năm 2020. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần thúc đẩy giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 12,7% năm 2016 xuống thêm 15,6% năm 2017, nâng cao sinh kế bền vững cho hơn 3.000 hộ nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế của World Bank năm 1992 và quan điểm của Raaman Weitz năm 1995, khẳng định phát triển kinh tế không chỉ là tăng trưởng quy mô vật chất mà còn phải đảm bảo công bằng xã hội và phân phối thành quả cho người nghèo. Nghiên cứu tích hợp lý thuyết phát triển sản xuất nông nghiệp của Vũ Thị Ngọc Phùng năm 2006 theo cả chiều rộng (mở rộng diện tích, sản lượng) và chiều sâu (thâm canh, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng).

Khung phân tích sản xuất dựa trên hàm sản xuất chuẩn tắc $Q = f(X_1, X_2, ..., X_n)$ của Nguyễn Ngọc Phương năm 2015 và Đào Quang Định năm 2015, xác định 4 yếu tố nguồn lực tác động trực tiếp gồm: vốn sản xuất, đất đai, lao động và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Các khái niệm cốt lõi được làm rõ bao gồm:

  1. Chuẩn nghèo đa chiều nông thôn giai đoạn 2016-2020 với mức thu nhập dưới 700.000 đồng/người/tháng.
  2. Phát triển sản xuất chè hàng hóa gắn với thị trường.
  3. Chính sách hỗ trợ có mục tiêu cho nông hộ vùng khó khăn theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tân Sơn giai đoạn 2010-2017. Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp tại 150 hộ nghèo trồng chè thuộc 3 xã đại diện: Thu Cúc (60 hộ), Thu Ngạc (50 hộ) và Đồng Sơn (40 hộ).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên có phân lớp theo địa bàn và quy mô diện tích canh tác chè. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ 17 xã của huyện, phản ánh chính xác sự khác biệt về địa hình và điều kiện kinh tế giữa các nhóm hộ dân tộc Mường, Dao. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tuyệt đối - tương đối và phân tích hiệu quả kinh tế so sánh giữa cây chè với lúa, sắn, lạc để lượng hóa mức độ đóng góp của chính sách hỗ trợ vào thu nhập hộ gia đình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu giống chè có bước chuyển biến tích cực khi tỷ lệ các giống chè mới có năng suất và chất lượng cao như LDP1, LDP2, Kim Tuyên, PH1 đã chiếm trên 71% tổng diện tích, thay thế dần giống chè hạt truyền thống cằn cỗi. Cây chè khẳng định hiệu quả kinh tế vượt trội: tính toán kinh tế chỉ ra 1 ngày công lao động trồng chè mang lại thu nhập cao gấp 2,6 lần làm lúa, 4,6 lần làm sắn và 4,0 lần làm lạc trên cùng một đơn vị diện tích đồi gò.

Thứ hai, các chính sách hỗ trợ giảm nghèo trực tiếp theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg với định mức 80.000 đến 100.000 đồng/người/năm và hỗ trợ 100% giá giống đã tạo lực đẩy rõ rệt. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2016 giảm 12,7% so với năm 2015, và năm 2017 tiếp tục giảm 15,6% so với năm 2016, hỗ trợ hơn 900 hộ dân thoát nghèo vững chắc.

Thứ ba, công tác cung ứng đầu vào còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Khoảng 25% diện tích đất sản xuất hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nằm ở địa hình dốc trên 25-30 độ, đất cằn cỗi và xa nguồn nước. Tình trạng thiếu đồng bộ diễn ra phổ biến khi người dân được cấp giống và phân bón nhưng lại thiếu đất canh tác. Một bộ phận phân bón hỗ trợ bị vón cục, thuốc bảo vệ thực vật chất lượng không đồng đều làm giảm hiệu quả cây trồng.

Thứ tư, chuỗi liên kết và chế biến sâu còn rất yếu. Toàn huyện có 3 cơ sở chè quốc doanh quy mô trên 1.100 ha thuộc Công ty liên doanh chè Phú Đa, nhưng hơn 90% sản lượng vẫn chỉ chế biến chè đen thô xuất khẩu giá trị thấp. Các giống quý như Bát Tiên, Phúc Vân Tiên chưa được đầu tư chế biến thành chè Ô long đặc sản vốn có giá trị cao gấp 5-7 lần.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các tồn tại trên bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với lượng mưa bình quân 1.808,8 mm tập trung 70% vào mùa hè gây rửa trôi đất dốc, kết hợp hạ tầng giao thông 14 xã đặc biệt khó khăn bị chia cắt mạnh. Trình độ dân trí và nhận thức sản xuất hàng hóa của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, thói quen canh tác quảng canh chưa thay đổi kịp.

Khi so sánh với tỉnh Thái Nguyên (vùng chè 18.600 ha đạt giá trị trên 70 triệu đồng/ha/năm, ngân sách hỗ trợ 18,4 tỷ đồng năm 2018 cho 46 cơ sở VietGAP) và huyện Mộc Châu - Sơn La (1.822 ha chè với mô hình "4 cùng" của doanh nghiệp, máy đóng gói tự động giúp tăng giá trị 3-4 lần và tiết kiệm 200 triệu đồng/năm), Tân Sơn còn thiếu vắng các hợp tác xã kiểu mới làm đầu mối bao tiêu và chuyển giao công nghệ.

Dữ liệu nghiên cứu thực trạng có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cột kép thể hiện tốc độ giảm nghèo 12,7% và 15,6% qua các năm 2015-2017, kết hợp với bảng cân đối chi phí - doanh thu cho thấy chè cành giống mới đem lại lợi nhuận ròng cao hơn 35% so với giống chè trung du cũ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đổi mới chính sách giao đất và hỗ trợ vật tư đầu vào: UBND huyện Tân Sơn và Phòng Tài nguyên Môi trường cần rà soát 100% quỹ đất đồi rừng chưa sử dụng, tổ chức khai hoang để giao tối thiểu 0,3 - 0,5 ha đất sản xuất/hộ nghèo trước năm 2020. Phòng Nông nghiệp và PTNT phối hợp với các doanh nghiệp vật tư cam kết cung ứng 100% giống chè cành đạt chuẩn chất lượng (LDP1, Kim Tuyên) và phân bón vi sinh theo hình thức trả chậm sau thu hoạch.

  2. Đổi mới công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật: Trạm Khuyến nông huyện chuyển đổi phương pháp đào tạo lý thuyết sang mô hình "cầm tay chỉ việc", tổ chức ít nhất 30 lớp thực hành tại đồi chè cho 1.500 lượt nông dân nghèo giai đoạn 2018-2020. Nội dung tập trung vào quy trình bón phân cân đối (80kg N, 40kg P2O5, 30kg K2O/ha) và kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh sinh học đạt chuẩn an toàn thực phẩm.

  3. Phát triển các tổ hợp tác và hợp tác xã chè kiểu mới: UBND các xã Thu Cúc, Thu Ngạc, Đồng Sơn thành lập mới từ 5-7 hợp tác xã nông nghiệp chuyên ngành chè giai đoạn 2018-2020. Hợp tác xã đóng vai trò đại diện pháp lý ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các nhà máy chế biến, nâng giá thu mua búp tươi ổn định thêm 15-20% cho thành viên.

  4. Nâng cấp công nghệ chế biến và xúc tiến thương mại: Phòng Kinh tế và Hạ tầng tham mưu hỗ trợ nguồn vốn khuyến công từ 300-500 triệu đồng/cơ sở để các doanh nghiệp đầu tư máy sấy bơm nhiệt, chuyển dịch 30% sản lượng chè thô sang chế biến chè xanh chất lượng cao và chè Ô long cao cấp trước năm 2020.

  5. Hoàn thiện quy hoạch hạ tầng vùng nguyên liệu: UBND tỉnh Phú Thọ ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách kiên cố hóa 50 km đường giao thông nội đồng tại các vùng chè tập trung huyện Tân Sơn đến năm 2020, giúp giảm tỷ lệ dập nát, hao hụt búp tươi trong quá trình vận chuyển xuống dưới 5%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo UBND huyện Tân Sơn, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để hoạch định đề án giảm nghèo đa chiều và quy hoạch phát triển vùng chè 3.000 ha giai đoạn 2021-2025.

  2. Cán bộ khuyến nông và chuyên gia phát triển nông thôn: Hệ thống khuyến nông viên cơ sở ứng dụng bộ tài liệu kỹ thuật canh tác giống chè mới (LDP1, Kim Tuyên) và phương pháp truyền thông trực quan cho 150 thôn bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

  3. Doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất và chế biến chè: Các xí nghiệp chè Minh Đài, Tân Phú, Phú Long và đối tác thương mại sử dụng số liệu khảo sát vùng nguyên liệu 26,5 ngàn tấn để xây dựng chuỗi liên kết bao tiêu bền vững, đầu tư công nghệ chế biến chè xanh và chè Ô long.

  4. Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung phương pháp luận điều tra 150 mẫu phân lớp, phương pháp đánh giá chính sách công và dữ liệu kinh tế hộ nghèo vùng Trung du miền núi phía Bắc cho các nghiên cứu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cây chè được xem là sinh kế tối ưu cho hộ nghèo huyện Tân Sơn? Cây chè thích nghi hoàn hảo với đất dốc đồi gò, cho thu hoạch đều đặn 8-9 lứa/năm với năng suất bình quân gần 10 tấn/ha. Tính toán thực tế chỉ ra hiệu quả 1 ngày công trồng chè cao gấp 2,6 lần làm lúa và 4,6 lần làm sắn, mang lại nguồn thu nhập ổn định quanh năm giúp hộ nghèo thoát nghèo bền vững.

Hạn chế lớn nhất trong các chính sách hỗ trợ hộ nghèo trồng chè tại Tân Sơn là gì? Hạn chế lớn nhất là sự thiếu đồng bộ: nhiều hộ nghèo được hỗ trợ giống và phân bón nhưng lại không có đất canh tác, hoặc khoảng 25% diện tích đất được giao có độ dốc trên 25 độ, cằn cỗi. Đồng thời, công tác chế biến chủ yếu là chè đen thô, thiếu chuỗi liên kết tiêu thụ ổn định.

Chính sách hỗ trợ đã tạo ra chuyển biến định lượng nào về giảm nghèo giai đoạn 2015-2017? Nhờ các gói hỗ trợ giống mới, phân bón và chuyển giao kỹ thuật theo Nghị quyết 30a, tỷ lệ hộ nghèo huyện Tân Sơn đã giảm 12,7% trong năm 2016 so với 2015, và tiếp tục giảm 15,6% trong năm 2017 so với 2016, đưa thu nhập bình quân đầu người tăng lên mức trên 8,1 triệu đồng/năm.

Tân Sơn có thể vận dụng kinh nghiệm thành công nào từ Thái Nguyên và Mộc Châu? Tân Sơn cần học tập Thái Nguyên ở việc trích ngân sách hỗ trợ 100% giá giống chè cành và chuẩn hóa trên 80% diện tích an toàn VietGAP. Đồng thời, học tập Mộc Châu áp dụng mô hình doanh nghiệp "4 cùng" với người dân và đầu tư máy sấy đóng gói hiện đại, giúp nâng giá trị sản phẩm lên gấp 3-4 lần.

Quy mô mẫu 150 hộ tại 3 xã có đảm bảo tính khoa học để suy rộng kết quả không? Mẫu 150 hộ được chọn ngẫu nhiên phân lớp tại 3 xã trọng điểm gồm Thu Cúc (60 hộ), Thu Ngạc (50 hộ) và Đồng Sơn (40 hộ). Mẫu bao quát đầy đủ các dạng địa hình từ núi thấp đến thung lũng, đại diện chuẩn xác cho hơn 3.000 hộ trồng chè trên toàn bộ 17 xã của huyện Tân Sơn.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định vị trí chiến lược của cây chè trên diện tích gần 3.000 ha trong việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và giảm nghèo tại huyện Tân Sơn.
  • Đánh giá toàn diện hiệu quả chính sách hỗ trợ giai đoạn 2015-2017, góp phần giảm tỷ lệ nghèo từ 12,7% đến 15,6% mỗi năm.
  • Chỉ rõ các nút thắt về phân bổ đất dốc, vật tư đầu vào thiếu đồng bộ và khâu chế biến sâu chiếm tỷ lệ thấp.
  • Đóng góp hệ thống 5 nhóm giải pháp đổi mới toàn diện từ quy hoạch đất đai, cung ứng giống LDP1, tập huấn thực hành đến phát triển hợp tác xã kiểu mới.
  • Xác định lộ trình triển khai hạ tầng 50 km đường giao thông nội đồng và nâng tỷ lệ giống mới lên trên 80% trong giai đoạn 2018-2020.

Công trình là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao cho chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách. Kính mời quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp tiếp tục khai thác toàn văn đề tài để đồng hành thúc đẩy chuỗi giá trị chè Tân Sơn ngày càng phát triển vững mạnh.