Đánh Giá Khả Năng Phát Hiện β-Agonist Trong Thức Ăn Chăn Nuôi Bằng Kit ELISA

Luận văn thạc sĩ vnua đánh giá khả năng phát hiện b agonist trong thức ăn chăn nuôi bằng kit elisa, góp phần nâng cao an toàn thực phẩm.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2016

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1. MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. TÌNH HÌNH VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM HIỆN NAY

2.2. TÌNH HÌNH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN THẾ GIỚI

2.3. TÌNH HÌNH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM

2.4. NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ NHÓM β-AGONIST

2.4.1. LỊCH SỬ PHÁT HIỆN

2.4.2. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI

2.4.3. DƯỢC ĐỘNG HỌC CỦA β–AGONIST

2.4.4. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA β–AGONIST

2.4.5. SƠ LƯỢC VỀ SALBUTAMOL VÀ CLENBUTEROL

2.5. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG β-AGONIST TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2.5.1. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG β-AGONIST TRÊN THẾ GIỚI

2.5.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG β-AGONIST TẠI VIỆT NAM

2.6. TỒN DƯ β-AGONIST TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

2.6.1. KHÁI NIỆM VỀ TỒN DƯ

2.6.2. ẢNH HƯỞNG CỦA TỒN DƯ β-AGONIST ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

2.7. KĨ THUẬT PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG β-AGONIST TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

2.7.1. PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÍNH ELISA

2.7.2. PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG

3. NGUYÊN VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.4. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

3.5. VẬT LIỆU, HÓA CHẤT VÀ THUỐC THỬ

3.6. THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM

3.7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.8.1. THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU TÍNH PHÙ HỢP CỦA KIT ELISA DÙNG CHO PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH XÁC ĐỊNH β-AGONIST TRONG MẪU THỨC ĂN CHĂN NUÔI

3.8.2. ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỂ PHÂN TÍCH MẪU THỰC

3.9. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CHẤT CẤM TRONG CHĂN NUÔI TỪ THÁNG 10/2015 ĐẾN THÁNG 5/2016

4.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÍNH PHÙ HỢP CỦA KIT ELISA DÙNG CHO PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH XÁC ĐỊNH β-AGONIST TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

4.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA KIT ELISA

4.4. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN PHÁT HIỆN (LOD) CỦA KIT ELISA

4.5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN CỦA KIT (CCβ)

4.6. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH ĐỘ CHÍNH XÁC (AC), ĐỘ ĐẶC HIỆU (SP), ĐỘ NHẠY (SE), ĐỘ LỆCH DƯƠNG (PD) VÀ ĐỘ LỆCH ÂM (ND)

4.7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CỦA KIT ELISA

4.8. ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỂ PHÂN TÍCH MẪU THỰC TẾ

4.8.1. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG β-AGONIST TRONG MẪU THỨC ĂN CHĂN NUÔI BẰNG KIT ELISA

4.8.2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG β-AGONIST TRONG MẪU THỨC ĂN CHĂN NUÔI BẰNG KỸ THUẬT LC/MS/MS

4.8.3. SO SÁNH SỰ TƯƠNG ĐỒNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH GIỮA ELISA VÀ LC/MS/MS

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Khả Năng Phát Hiện β Agonist

Đánh giá khả năng phát hiện β-Agonist trong thức ăn chăn nuôi là một vấn đề quan trọng trong ngành thú y. Việc sử dụng β-Agonist trong chăn nuôi nhằm mục đích tăng trưởng nhanh chóng cho động vật đã dẫn đến nhiều lo ngại về an toàn thực phẩm. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc phát hiện β-Agonist trong thức ăn chăn nuôi không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Kit ELISA là một trong những phương pháp phổ biến được sử dụng để phát hiện các chất này.

1.1. Khái Niệm Về β Agonist Trong Thức Ăn Chăn Nuôi

β-Agonist là nhóm chất có khả năng kích thích thụ thể beta-adrenergic, thường được sử dụng trong chăn nuôi để tăng trưởng và cải thiện hiệu suất. Việc sử dụng β-Agonist trong thức ăn chăn nuôi đã gây ra nhiều tranh cãi về an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Phát Hiện β Agonist

Việc phát hiện β-Agonist trong thức ăn chăn nuôi là cần thiết để đảm bảo an toàn thực phẩm. Các chất này có thể gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người, bao gồm rối loạn tiêu hóa và các vấn đề nghiêm trọng khác. Do đó, việc kiểm tra và giám sát là rất quan trọng.

II. Thách Thức Trong Việc Phát Hiện β Agonist

Mặc dù có nhiều phương pháp để phát hiện β-Agonist, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc áp dụng chúng trong thực tế. Các vấn đề như độ nhạy, độ đặc hiệu và khả năng phát hiện trong các mẫu thực tế là những yếu tố quan trọng cần được xem xét.

2.1. Độ Nhạy Và Độ Đặc Hiệu Của Phương Pháp

Độ nhạy và độ đặc hiệu của các phương pháp phát hiện β-Agonist là rất quan trọng. Một phương pháp có độ nhạy cao sẽ giúp phát hiện được nồng độ thấp của chất này trong mẫu, trong khi độ đặc hiệu cao sẽ giúp phân biệt giữa β-Agonist và các chất khác.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Phân Tích Mẫu Thực Tế

Phân tích mẫu thực tế có thể gặp khó khăn do sự hiện diện của nhiều chất khác nhau trong thức ăn chăn nuôi. Điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích và làm giảm độ tin cậy của phương pháp phát hiện.

III. Phương Pháp ELISA Trong Phát Hiện β Agonist

Phương pháp ELISA (Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay) là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất để phát hiện β-Agonist trong thức ăn chăn nuôi. Phương pháp này có nhiều ưu điểm như độ nhạy cao, dễ thực hiện và chi phí hợp lý.

3.1. Nguyên Tắc Hoạt Động Của Phương Pháp ELISA

Phương pháp ELISA hoạt động dựa trên nguyên tắc kháng thể và kháng nguyên. Khi mẫu chứa β-Agonist được thêm vào, kháng thể sẽ liên kết với chất này, tạo ra một phản ứng có thể đo được.

3.2. Ưu Điểm Của Kit ELISA Trong Phân Tích

Kit ELISA có nhiều ưu điểm như dễ sử dụng, không yêu cầu thiết bị phức tạp và có thể thực hiện nhiều mẫu cùng lúc. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các phòng thí nghiệm.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Khả Năng Phát Hiện β Agonist

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kit ELISA có khả năng phát hiện β-Agonist với độ chính xác và độ nhạy cao. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng kit này có thể giúp phát hiện nhanh chóng và hiệu quả các chất cấm trong thức ăn chăn nuôi.

4.1. Kết Quả Phân Tích Mẫu Thực Tế

Trong nghiên cứu, 135 mẫu thức ăn chăn nuôi đã được phân tích, trong đó có 5 mẫu dương tính với β-Agonist, chiếm tỷ lệ 3,7%. Kết quả này cho thấy sự hiện diện của β-Agonist trong thực phẩm là một vấn đề cần được quan tâm.

4.2. So Sánh Kết Quả Giữa ELISA Và LC MS MS

Kết quả phân tích bằng phương pháp ELISA được so sánh với phương pháp LC/MS/MS cho thấy sự tương đồng cao. Điều này chứng tỏ rằng ELISA là một phương pháp đáng tin cậy trong việc phát hiện β-Agonist.

V. Kết Luận Về Đánh Giá Khả Năng Phát Hiện β Agonist

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng kit ELISA có khả năng phát hiện β-Agonist trong thức ăn chăn nuôi một cách hiệu quả. Việc áp dụng phương pháp này sẽ góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

5.1. Tương Lai Của Phương Pháp ELISA

Phương pháp ELISA có tiềm năng lớn trong việc phát hiện các chất cấm trong thực phẩm. Việc cải tiến và phát triển các kit ELISA mới sẽ giúp nâng cao độ nhạy và độ chính xác của phương pháp này.

5.2. Đề Xuất Chính Sách An Toàn Thực Phẩm

Cần có các chính sách và quy định chặt chẽ hơn về việc sử dụng β-Agonist trong chăn nuôi. Việc kiểm tra định kỳ và giám sát chất lượng thực phẩm sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnua đánh giá khả năng phát hiện b agonist trong thức ăn chăn nuôi bằng kit elisa

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu kích thích sự phát triển của cơ. Dưới tác động của β-agonist, thì khả năng gia tăng protein trong cơ là do sự giảm thoái biến protein và đồng thời gia tăng tổng hợp protein. Các chất dinh dưỡng thay vì đi vào mô để dự trữ lại phân bố vào mô cơ. Sơ lược về salbutamol và clenbuterol Trong những chất thuộc nhóm β-agonist thì Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine là ba chất đứng đầu trong danh mục 18 chất kháng sinh, hóa chất bị cấm sử dụng trong chăn nuôi ở nước ta (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002).

Trong đó hai chất đầu gần như cả thế giới đều cấm, riêng với Ractopamine lại có đến 24 nước chấp nhận sử dụng (2002), trong đó có cả những nước phát triển như Mỹ, Canada, Úc , Brazin, Mehico, Thái Lan…Tuy nhiên cũng có rất nhiều nước cấm, đứng đầu là Liên hiệp châu Âu, Trung Quốc, Malayxia, vùng lãnh thổ Đài Loan. Do đó việc kiểm soát hàm lượng các chất thuộc nhóm β-agonist trong các chế phẩm dùng trong chăn nuôi trở thành một yêu cầu cấp thiết của xã hội. Cấu trúc và cơ chế tác động trong cơ thể của Salbutamol Sabutamol (Ibuterol) là một thụ thể β2-agonist tác dụng nhanh tạo ephedrine, được sử dụng để làm giảm co thắt phế quản trong các bệnh như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Sabutamol được bán lần đầu tiên trên thị trường vào năm 1968, bởi hãng Allen và Hanburys dưới tên thương phẩm Ventolin.

Thuốc này nhanh chóng được mở rộng thị trường và từ đó được sử dụng để điều trị hen suyễn. Salbutamol sulfate thường được dùng qua hít thở, có tác dụng trực tiếp đến cơ trơn phế quản. Salbutamol được sử dụng chủ yếu để điều trị co thắt khí quản cũng như bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính. Ngoài ra, salbutamol cũng được sử dụng trong sản khoa.

Salbutamol dạng dịch truyền có thể được sử dụng như là thuốc đỡ đẻ, làm giãn cơ mềm tử cung có tác dụng làm chậm sự đẻ non. Salbutamol cũng được hấp thụ dễ dàng qua đường tiêu hóa, là loại thuốc dùng cắt cơn hen, giãn phế quản, giãn cơ trơn. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tác dụng phụ của salbutamol thường thấy nhất là run, lo lắng, đâu đầu, rút cơ, khô họng và hồi hộp. Các triệu chứng phụ khác có thể có mạch đập nhanh, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cục bộ cơ tim và rối loạn giấc ngủ và hành vi.

Còn salbutamol dùng số lượng lớn gây hiện tượng tim đập nhanh, hệ thống thần kinh hưng phấn quá mức. Công thức phân tử: C13H21NO3: 2-(hydroxymethyl)-4-(1-hydroxy-2-tert- butylamino-ethyl)-phenol. Công thức cấu tạo: c. Cơ chế tác động: Cũng như các Agonist β2-adrenergic khác, salbutamol kết hợp với các thụ thể β2-adrenergic với ái lực cao hơn các thụ thể β1.

Trong đường hô hấp, sự họat hóa các thụ thể β2 làm giãn các cơ ở khí quản và do đó khí quản mở rộng ra và lượng không khí vào phổi sẽ tăng lên. Salbutamol sulfate cho hiệu quả khá nhanh chỉ trong vòng 5-15 phút sau khi xịt mũi. Trong sản khoa, hoạt động của các thụ thể β2 làm giãn cơ trơn tử cung và vì vậy nó có tác dụng làm trì hoãn việc đẻ non. Cấu trúc và cơ chế tác động trong cơ thể của Clenbuterol Clenbuterol là một chất thường được dùng để trị các rối loạn về hô hấp như thuốc thông mũi và thuốc trị viêm phế quản.

Clenbuterol thường được sử dụng dưới dạng muối clenbuterol hydrochloride. Những người có rối loạn hô hấp mạn tính như hen suyễn thường sử dụng như một thuốc giãn phế quản để trợ giúp cho việc thở dễ dàng hơn. Liều dùng không được vượt quá 200 µg /lần và trong khi điều trị phải giữ cho huyết áp luôn dưới 140/90. Trong nhân y, clenbuterol được sử dụng như là một thuốc cấp cứu với quy trình sử dụng có sự kiểm soát chặt chẽ và phải cảnh giác với các tác dụng phụ thường là run tay, mất ngủ, đổ mồ hôi, tăng huyết áp, buồn nôn.

Clenbuterol có thể làm mở rộng tâm thất, gây phì đại tim và thậm chí có thể gây 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoại tử. Khi dùng trên động vật với liều cao hơn liều điều trị có tác dụng đặc biệt là làm tăng khối cơ và giảm lượng mỡ dư thừa trong cơ thể. Chính vì điều này, một số người chăn nuôi đã cố tình lạm dụng clenbuterol trong chăn nuôi động vật làm thực phẩm. Clenbuterol là adrenergic agonist với một vài đặc điểm tương tự như ephedrine, nhưng hiệu quả của nó mạnh hơn và lâu hơn.

Nó làm tăng nhịp tim, tăng sự tuần hoàn máu, tăng huyết áp, trao đổi chất và oxy. Nó làm tăng tỷ lệ sử dụng chất béo và protein của cơ thể cũng như giảm tích lũy glycogen. clenbuterol cũng được dùng để làm giảm hiện tượng căng cơ trơn. Trong thú y, clenbuterol có tên thương phẩm là Ventipulmin, được sử dụng rộng rãi trong điều trị các dị ứng hô hấp ở ngựa, có tác dụng làm giảm cơ đường hô hấp, nó có thể được sử dụng bằng được miệng hay tiêm tĩnh mạch.

Clenbuterol rất bền dưới tác dụng của nhiệt nên không hề phân huỷ hoặc bay hơi khi nấu chín. Khi heo ăn thức ăn có trộn clenbuterol, chất này tồn dư ở tất cả các bộ phận, tập trung chủ yếu ở các cơ, nội tạng. Người ăn thịt lợn tồn dư clenbuterol có thể bị ngộ độc cấp với những triệu chứng như: Rối loạn nhịp tim, co thắt phế quản, phù nề, liệt cơ, tăng huyết áp, rối loạn trao đổi chất. Công thức phân tử: C12H18N2Cl2: 4-amino-3,5-dichloro-phenyl hay (tertbutylamino) ethanol b.

Công thức cấu tạo: c. Cơ chế tác động: Là một loại thuốc cường giao cảm có tác động kích thích receptor β2– adrenergic, sẽ làm tăng hoạt tính adenylyl cyclase, dẫn đến tăng lượng AMP 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vòng, AMP vòng làm giãn cơ trơn phế quản, ổn định màng tế bào mast nên giảm tiết chất trung gian và kích thích cơ vân (gây run), tăng sự vận chuyển dịch nhày nhờ các lông trên đường hô hấp. Clenbuterol là một đại diện đặc trưng của nhóm β2-agonist thường được dùng để kích thích những receptor β ở mỡ và cơ trong cơ thể. Clenbuterol có ảnh hưởng đặc trưng nhất trong nhóm β–agonist vì nó có thể kích thích cả loại 2 và 3 của các receptor.

Thật ra, clenbuterol giúp giảm mỡ trong cơ thể thông qua việc tăng quá trình đồng hóa. Tác động này được thực hiện bằng cách làm tăng nhẹ nhiệt độ của cơ thể. Nếu nhiệt độ cơ thể tăng lên 100C thì cơ thể sẽ đốt cháy thêm 5% năng lượng dùng duy trì sự sống. Khi đó, cơ thể sẽ thích ứng bằng cách giảm tiết thyroxin cho các hoạt động trong cơ thể, sẽ dẫn tới bệnh của tuyến giáp.

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG β-AGONIST TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 2. Tình hình sử dụng β-agonist trên thế giới Clenbuterol được công chúng biết đến lần đầu tiên trong Olympic mùa hè Barcelona năm 1992, hai vận động viên đã bị cấm thi đấu do dùng thuốc này. Thuốc này được các vận động viên, những người ăn kiêng dùng nhằm mục đích làm chắc cơ, giảm béo. Clenbuterol cũng được sử dụng trong chăn nuôi cũng với mục đích như các vận động viên điền kinh là làm trương nở cơ và tăng tỷ lệ thịt nạc.

Để đạt được mục đích kích thích sinh trưởng, tạo thịt lợn siêu nạc người ta dùng β- agonist với liều lượng gấp 5-10 lần liều trị bệnh (Miller et al. Đây chính là lý do của việc sử dụng trái phép β-agonist trong thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn dẫn đến việc tồn dư các chất này trong sản phẩm động vật. Khi động vật ăn phải thức ăn chăn nuôi có chứa β-agonist thì chúng sẽ tích tụ tại thịt, gan và một số cơ quan nội tạng. Kết quả nghiên cứu tồn dư β-agonist trên một số động vật cho biết 100% dư lượng của thuốc này tồn dư ở trong cơ và 60% dư lượng tồn dư ở gan ở dạng không biến đổi.

Thời gian tồn lưu ở gan và thịt cơ khoảng từ 25 – 30 ngày hoặc lâu hơn (Gianfranco Brambilla et al. Khi người tiêu thụ ăn những sản phẩm chế biến từ những vật nuôi này, họ bộc lộ các triệu chứng tương tự như người sử dụng Clenbuterol xịt khi lên cơn suyễn. Đã có hàng trăm vụ ngộ độc Clenbuterol đã được ghi nhận tại Mỹ và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Châu Âu do ăn thịt bị nhiễm chất này. Các triệu chứng được ghi nhận như đau cơ, rung cơ, nhịp tim nhanh, đau đầu kéo dài khoảng 6 ngày.

Clenbuterol được sử dụng bất hợp pháp để tăng lượng cơ của gia súc cho dù chúng rất ít vận động. Người chăn nuôi thường trộn chất này vào thức ăn cho vật nuôi với hàm lượng cao cho đến khi giết mổ, một phần chất này sẽ được bài tiết ra ngoài hay được biết đổi thành các chất khác nhưng một số vẫn tồn dư trong vật nuôi ở gan, cơ hay thận. Clenbuterol bị phân hủy tại gan. Ở Tây Ban Nha, vào năm 1994, 140 người đã nhập viện sau khi ăn phải thịt heo bị nhiễm Clenbuterol.

Họ bị chóng mặt, tim đập nhanh, khó thở, run tay và nhức đầu (Lê Quốc Thịnh, 2012). 43 gia đình ở Tây Ban Nha đã bị nhiễm Clenbuterol và Salbutamol sau khi ăn gan heo. Triệu chứng xảy ra trong vòng 30 - 360 phút. Kết quả kiểm tra nước tiểu của các bệnh nhân cho thấy hàm lượng Clenbuterol là 160 - 291ppb.

Ở Italy đã có 16 người ngộ độc thực phẩm khi ăn thịt bò fillet và thịt mông bò có chứa trên 0. Ở châu Âu, tất cả các loại trong nhóm β-agonist bị cấm sử dụng cho mục đích tăng trưởng với chỉ thị 96/22/EC (EC, 1996). Ở một số nước trên thế giới, Ractopamine được sử dụng làm chất kích thích tăng trưởng cho heo thịt với một số điều kiện nhất định. Tại Pháp, ngày 24-9-1990 có 22 bệnh nhân từ 8 gia đình tại các khu vực khác nhau sau khi ăn thịt bê đã bị nhiễm Clenbuterol bị các triệu chứng như cơ bắp run, đau đầu, tim đập nhanh (Pulce et al.

Vào năm 1990, Trung Quốc cũng đã cấm sử dụng Clenbuterol trong chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, theo Báo Thanh Niên, ngày 2/11/2005: Ở Trung Quốc, hàng nghìn người dân đã bị ngộ độc do ăn thịt heo có tồn dư Clenbuterol. Tạp chí chăn nuôi Trung Quốc kỳ 3, quyển 40 năm 2004 đã thông tin về "Shoù roù Jing" là chế phẩm tăng nạc, chứa tồn dư Clenbuterol trong thịt lợn. Tháng 5- 1998 đã có 17 người dân Hong Kong ăn thịt heo bị trúng độc, chân tay run rẩy, đau đầu, tim đập nhanh, miệng khô, mắt bị trợn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ