Luận văn thạc sĩ: Vấn đề người lao động nhập cư trên báo điện tử Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU ULIS phân tích vấn đề người lao động nhập cư trên báo điện tử Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Chuyên ngành

Báo Chí Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO ĐIỆN TỬ VÀ VẤN ĐỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ

1.1. Hệ thống khái niệm về di cư và lao động nhập cư

1.2. Khái niệm “di động xã hội”

1.3. Khái niệm chung về địa vị xã hội

1.4. Sự phân tầng xã hội

1.5. Khái niệm lao động nhập cư

1.6. Vùng văn hóa và vấn đề bản sắc văn hóa của người lao động nhập cư

1.6.1. Quan niệm vùng văn hóa

1.6.2. Vấn đề bản sắc văn hóa vùng của người lao động nhập cư

1.7. Đặc điểm và xu hướng của lao động nhập cư tại Việt Nam hiện nay

1.7.1. Đặc điểm của lao động nhập cư tại Việt Nam

1.7.2. Xu hướng của lao động nhập cư tại Việt Nam hiện nay

1.8. Báo điện tử với việc thông tin về người lao động nhập cư ở Việt Nam

1.8.1. Khái niệm báo điện tử

1.8.2. Vai trò của báo điện tử trong việc thông tin về người lao động nhập cư

1.8.3. Ưu thế của báo điện tử trong việc thông tin về người lao động nhập cư

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ VỀ VẤN ĐỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Lý do lựa chọn các tờ báo điện tử được khảo sát

2.2. Kết quả khảo sát báo điện tử Lao động, Lao động thủ đô và Người lao động

2.3. Thống kê số lượng tin, bài về chủ đề người lao động nhập cư, từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016

2.4. Nội dung thông tin về vấn đề người lao động nhập cư đăng tải trên báo điện tử Lao động, Lao động Thủ đô và Người lao động

2.4.1. Thông tin về vấn đề việc làm và tiền lương của người lao động nhập cư

2.4.2. Vấn đề an sinh xã hội của người lao động nhập cư

2.4.3. Thông tin về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động nhập cư

2.4.4. Thông tin về các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động nhập cư

2.5. Hình thức truyền tải thông tin về vấn đề người lao động nhập cư đăng tải trên báo điện tử Lao động, Lao động Thủ đô và Người lao động

2.5.1. Hệ thống thể loại báo chí được sử dụng

2.5.2. Về việc sử dụng các chất liệu đa phương tiện

2.5.3. Về cách thức tương tác với độc giả

2.6. Đánh giá thành công và hạn chế của báo điện tử với vấn đề người lao động nhập cư tại Việt Nam hiện nay

2.6.1. Thành công và nguyên nhân

2.6.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.7. Kết quả khảo sát ý kiến phản hồi của công chúng

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Những vấn đề đặt ra đối với việc thông tin về người lao động nhập cư

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin của báo điện tử về vấn đề người lao động nhập cư hiện nay

3.2.1. Cần có chủ trương, chiến lược thông tin về vấn đề người lao động nhập cư trên báo điện tử

3.2.2. Phối hợp giữa cơ quan báo điện tử với các ban ngành liên quan để cung cấp thông tin về vấn đề lao động nhập cư

3.2.3. Hình thành chuyên mục riêng dành cho người lao động nhập cư

3.2.4. Nâng cao hiểu biết và nhận thức của người làm báo về các vấn đề người lao động nhập cư

3.2.5. Tận dụng và phát huy tính đa phương tiện và tính tương tác của báo điện tử

3.2.6. Tăng cường sử dụng các công cụ tối ưu hóa tìm kiếm thông tin

3.2.7. Những ý kiến nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tác phẩm báo chí thông tin về vấn đề người lao động nhập cư trên báo điện tử Lao động, Người lao động và Lao động thủ đô

3.2.7.1. Đối với tòa soạn
3.2.7.2. Đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên
3.2.7.3. Phát triển, đổi mới chuyên mục Công đoàn

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề người lao động nhập cư trên báo điện tử Việt Nam

Vấn đề người lao động nhập cư đã trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Sự gia tăng của lao động nhập cư không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn tác động đến xã hội và văn hóa. Các báo điện tử như Lao động, Người lao động và Lao động thủ đô đã phản ánh nhiều khía cạnh của vấn đề này. Tuy nhiên, việc truyền thông về người lao động nhập cư vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục.

1.1. Khái niệm và thực trạng người lao động nhập cư

Người lao động nhập cư là những người di chuyển từ nơi khác đến các thành phố lớn để tìm kiếm việc làm. Theo thống kê, khoảng 70% lao động tại các khu công nghiệp là lao động ngoại tỉnh. Họ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội và hòa nhập với cộng đồng.

1.2. Vai trò của báo điện tử trong việc thông tin về người lao động nhập cư

Báo điện tử đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về người lao động nhập cư. Chúng không chỉ phản ánh thực trạng mà còn góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về quyền lợi và khó khăn của họ. Tuy nhiên, nội dung thông tin vẫn cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu của độc giả.

II. Thách thức trong việc thông tin về người lao động nhập cư

Mặc dù báo điện tử đã có những nỗ lực trong việc đưa tin về người lao động nhập cư, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu thông tin chính xác, không đầy đủ và sự phân biệt đối xử vẫn diễn ra. Điều này ảnh hưởng đến việc nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi của họ.

2.1. Thiếu thông tin chính xác và đầy đủ

Nhiều bài viết trên báo điện tử chưa cung cấp thông tin đầy đủ về quyền lợi và chính sách hỗ trợ cho người lao động nhập cư. Điều này dẫn đến sự hiểu lầm và thiếu thông tin cần thiết cho họ trong quá trình hòa nhập.

2.2. Sự phân biệt đối xử trong thông tin

Người lao động nhập cư thường bị kỳ thị và phân biệt trong xã hội. Các bài viết trên báo điện tử cần phải thể hiện sự công bằng và khách quan hơn để giúp xóa bỏ định kiến này.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng thông tin về người lao động nhập cư

Để cải thiện chất lượng thông tin về người lao động nhập cư, cần có những phương pháp cụ thể. Việc phối hợp giữa các cơ quan báo chí và các tổ chức xã hội là rất cần thiết để cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ hơn.

3.1. Tăng cường hợp tác giữa báo chí và các tổ chức xã hội

Sự hợp tác này sẽ giúp báo chí có thêm nguồn thông tin phong phú và chính xác hơn về người lao động nhập cư. Các tổ chức xã hội có thể cung cấp dữ liệu và thông tin thực tế từ cộng đồng.

3.2. Đào tạo phóng viên về vấn đề người lao động nhập cư

Đào tạo phóng viên về các vấn đề liên quan đến người lao động nhập cư sẽ giúp họ có cái nhìn sâu sắc hơn và viết bài một cách chính xác và khách quan hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu về người lao động nhập cư

Nghiên cứu về người lao động nhập cư không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được ứng dụng vào thực tiễn. Các báo điện tử cần có những chuyên mục riêng để phản ánh đầy đủ hơn về cuộc sống và quyền lợi của họ.

4.1. Hình thành chuyên mục riêng về người lao động nhập cư

Chuyên mục này sẽ tập trung vào các vấn đề liên quan đến người lao động nhập cư, từ đời sống, việc làm đến các chính sách hỗ trợ. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức của xã hội về họ.

4.2. Đưa tin kịp thời về các sự kiện liên quan

Báo điện tử cần đưa tin kịp thời về các sự kiện liên quan đến người lao động nhập cư, như đình công, bãi công, hay các hoạt động hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội.

V. Kết luận và tương lai của vấn đề người lao động nhập cư

Vấn đề người lao động nhập cư sẽ tiếp tục là một chủ đề quan trọng trong tương lai. Cần có những giải pháp đồng bộ để bảo vệ quyền lợi của họ và nâng cao chất lượng thông tin trên báo điện tử.

5.1. Tương lai của người lao động nhập cư tại Việt Nam

Với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng người lao động nhập cư sẽ tiếp tục gia tăng. Cần có những chính sách hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi cho họ để đảm bảo sự phát triển bền vững.

5.2. Vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức

Báo chí cần đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về người lao động nhập cư. Điều này không chỉ giúp họ hòa nhập tốt hơn mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ulis vấn đề người lao động nhập cư trên báo điện tử việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về báo điện tử và vấn đề người lao động nhập cư Chương 2: Thực trạng thông tin của báo điện tử với vấn đề người lao động nhập cư hiện nay Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng báo điện tử với vấn đề người lao động nhập cư hiện nay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO ĐIỆN TỬ VÀ VẤN ĐỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƢ 1. Hệ thống khái niệm về di cƣ và lao động nhập cƣ 1. Khái niệm “di động xã hội” Cùng quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, sự tăng trưởng kinh tế luôn kèm theo sự thay đổi dân cư. Đây là một quá trình mang tính quy luật.

Quá trình này chịu ảnh hưởng của ba nhân tố: sinh, tử và di dân. Sự di chuyển dân cư là một yếu tố động, nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chi phối khác như những nhân tố kinh tế, xã hội và văn hóa.gây ra những tác động khác nhau lên quá trình này. Đây là một hiện tượng xã hội phức tạp. Lý do là đối với mỗi cá nhân luôn chịu sự tác động của một quy luật sống bất di bất dịch của tự nhiên: sinh ra - bước chân vào xã hội và chết đi ra khỏi xã hội đó hay di chuyển sang xã hội khác dưới những hình thức ra đi khác nhau.

Trong quá trình hoạt động sống có những cá nhân luôn di chuyển nơi sinh sống, cư trú, hoạt động lao động của mình. Sự di chuyển của những cá nhân này không chỉ tạo ra mặt “động” của quá trình dân số mà nó cũng đem lại những hậu quả kinh tế-xã hội nhất định, có những hậu quả đôi khi khó lường trước được. Sự di chuyển dân cư luôn là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và là một hiện tượng nảy sinh mang tính phổ biến trong mọi xã hội. Mỗi dân tộc, trong tiến trình lịch sử đều gắn liền với quá trình di dân được xác định.

Điều đó đúng với mọi quốc gia, mọi dân tộc. Hoạt động di chuyển dân cư đã từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ và luôn gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử nhất định. Từ xa xưa, trong mỗi giai đoạn lịch sử, hoạt động này diễn ra với những đặc điểm riêng của nó, chẳng hạn như sự di chuyển dân cư trong lịch sử luôn gắn liền với sự mở mang bờ cõi, đất đai., và hệ quả là tạo nên nét đặc thù riêng cho mỗi xã hội cụ thể. Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cũng cũng chứng tỏ điều đó, nhất là đối với tộc người Việt trong vòng hơn mười thế kỷ gần đây [29].

Nhận thức đầy đủ về sự chuyển cư trong trong quá khứ cũng như hiện tại là một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển tri thức khoa học. Nhưng vấn đề đặt ra 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là phải nhận thức thật đầy đủ, khoa học về quá trình di cư đang diễn ra xã hội Việt Nam hiện đại, chẳng hạn như: Tình trạng di cư hiện nay ra sao? Di dân sẽ là biến đổi cấu trúc (cơ cấu) dân số-xã hội như thế nào? Những gì là nguyên nhân, là các yếu tố, là những điều kiện. gây tác động, ảnh hưởng đến sự di chuyển dân cư như vậy? Vai trò của quá trình chuyển cư như vậy đối với công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước và phát triển mọi mặt khác nhau của đời sống xã hội nói chung và của từng địa phương cụ thể nói riêng? Hậu quả của nó có ảnh hưởng gì đến sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa của từng vùng, từng dân tộc? Có sự thay đổi gì về lối sống của họ trong những điều kiện hoạt động sống mới? Những mối quan hệ xã hội mới được định hình như thế nào? Hậu quả môi trường nơi họ mới chuyển đến ra sao? Sự lan truyền văn hóa, lối sống cũng như sự “giao thoa” văn hóa giữa những nhóm xã hội “đi”, “đến" như thế nào?. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra khi quan tâm nghiên cứu hiện tượng xã hội nóng bỏng và bức xúc này.

Trong những năm bắt đầu của thời kỳ đổi mới trở lại đây, ở Việt Nam sự di chuyển dân cư đang diễn ra mạnh mẽ. Những nghiên cứu công bố gần đây cho thấy chuyển cư trong nông thôn là một hiện tượng tất yếu. Vấn đề đặt ra là cần xem di chuyển dân cư như hiện tượng khách quan như những hiện tượng xã hội khác đã và đang nảy sinh cần được tìm hiểu, nghiên cứu một cách khoa học, nhằm xác định đúng những quy luật và tính quy luật xã hội tác động, chi phối nó. Từ đó có sự nhận thức đúng về hiện tượng xã hội này và đề ra những chính sách, những giải pháp xã hội đúng đắn điều tiết chính quá trình chuyển cư sao cho hợp lý, phù hợp với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cũng như quá trình hòa nhập vào khu vực và quốc tế hiện nay.

Một lý do khác cũng cần xem xét vấn đề chuyển cư ở chỗ trong quá trình di chuyển, người di cư sẽ di chuyển đến đâu để sinh sống, những nhân tố nào tác động lôi kéo họ ra khỏi mảnh đất quê hương, “nơi chôn rau, cắt rốn của họ”. Điều cần nghiên cứu xem xét sâu sắc thêm ở đây là nhận thức truyền thống về nơi cư trú của những người trong dòng di cư này đã thay đổi như thế nào? Phải chăng đối với 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com họ, quê hương bản quán không còn ý nghĩa nặng nề như những người người còn ở lại? Phải chăng cơ chế kinh tế thị trường đã làm cho họ thay đổi những quan niệm truyền thống kiểu như vậy? Một lý do khác cũng cần được đặt ra đó là những yếu tố kinh tế trong hoạt động lao động sản xuất của những người di cư. Từ những năm 1990 cho đến nay, đất nước ta chuyển dần từng bước sang nền kinh tế thị trường, những giá trị xã hội cũng đã ít nhiều thay đổi tầm ảnh hưởng của nó. Bên cạnh những giá trị truyền thống còn lưu giữ trong lòng xã hội, có những giá trị xã hội mới đang “lên ngôi”, gây không ít những ảnh hưởng, tác động đến hành vi, sự lựa chọn của các cá nhân trong xã hội Việt Nam đương đại.

Hệ những giá trị mới, cũ đan xen trong đó phải kể đến những giá trị “trọng sang, trọng giàu, trong vật chất, trọng văn minh, hiện đại. Điều này cho thấy những nhân tố kinh tế sẽ góp phần không nhỏ ảnh hưởng đến sự lựa chọn lý do để di cư. Vì vậy, nghiên cứu những nhân tố kinh tế - xã hội gây tác động, ảnh hưởng đến di chuyển dân cư là cần thiết, bởi vì những nhân tố này sẽ tạo ra những giá trị xã hội (và cũng là những tính quy luật xã hội) tác động đến nhận thức, hành vi của các thành viên trong xã hội Việt Nam. Chẳng hạn như đất đai canh tác, thu nhập, việc làm v., và cả những cơ hội nảy sinh trong quá trình hoạt động kinh tế đều là những nhân tố tác động đến quyết định ra đi, sự lựa chọn nơi di chuyển đến của những người di cư.

Và tự nó, những yếu tố này là những nguyên nhân cụ thể làm nảy sinh và thúc đẩy dòng di cư hiện đại. Khái niệm chung về địa vị xã hội Địa vị (status) xã hội của mỗi chủ thể hành động được xác định như là “sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội”[18], thực chất đó là sự thẩm định của xã hội dành cho một vị trí trong hệ thống xã hội. Sự chuyển đổi địa vị xã hội cư trú của họ tạo ra và là sự biểu hiện của quá trình thay đổi địa vị cư trú-xã hội, và điều đó cho thấy sự di động xã hội của chủ thể hành động đó. Trước hết cần hiểu mỗi cá nhân, nhóm xã hội đều chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống xã hội.

Khi đó, địa vị (status) là khái niệm chỉ một vị trí xã hội 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong một hệ thống đó mang tính ổn định, gắn liền với một sự mong đợi đặc thù, những quyền và trách nhiệm [2]. Ở mỗi xã hội có một hệ thống những địa vị khác nhau, được xem như là “mạng các địa vị”, và mỗi chủ thể đều có được một địa vị xã hội trong tương quan với chủ thể khác. Khi nghiên cứu về địa vị xã hội, J. Fichter đã chỉ ra những yếu tố cấu thành địa vị xã hội bao gồm: dòng dõi, của cải (dưới hình thức này hay hình thức khác), lợi ích của một chức vụ, trình độ học vấn, tôn giáo, các đặc trưng cá nhân như giới tính, tuổi.[16], kể cả “cơ hội cuộc sống”, cũng như khả năng của cá nhân nắm bắt cơ hội đó, điều mà M.

Weber luôn nhấn mạnh. Theo quan niệm của T.Parsons, hệ thống xã hội như là một hệ thống các cá nhân tương tác với nhau trong một hoàn cảnh mà ít nhất cần có yếu tố vật chất hoặc môi trường, những chủ thể hành động (actors) được khuyến khích theo xu hướng thoả mãn. Mối quan hệ giữa họ và với hoàn cảnh của họ được xác định trong một hệ thống các biểu trưng được cấu trúc và cùng chia sẻ về mặt văn hóa. Ông đã đưa ra quan niệm của mình về phức hợp (complex) địa vị - vai trò với tư cách là sự thống nhất nền tảng của hệ thống xã hội.

Địa vị gán cho một vị trí cấu trúc trong hệ thống xã hội, và vai trò, theo ông, là cái mà người hành động (actor) phải làm ở trong vị trí đó trong quan hệ với những người hành động khác nằm trong mối liên kết (context) và có tầm quan trọng về chức năng đối với hệ thống [40, tr 25]. Như thế, sự phân tầng (stratification) các địa vị xã hội - vai trò xã hội làm thành cấu trúc của xã hội, và nhờ đó có được sự di động xã hội giữa các tầng lớp xã hội. Sự phân tầng xã hội Sự thay đổi này được xác định như là một sự di động xã hội. Các nhà xã hội học coi “sự di động xã hội là sự vận động của cá nhân, đôi khi là nhóm xã hội, giữa những vị trí trong hệ thống tầng lớp xã hội, trong nội bộ xã hội [2],…được cấu trúc theo một cách mà tầng lớp nào đó có quyền lực và có tiền thưởng hơn những người khác”[50].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ