CHƯƠNG 1 SỰ XÂM NHẬP CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC ĐẠI DƯƠNG VÀ CÁCH ỨNG PHÓ CỦA NHẬT BẢN Lịch sử loài người đánh dấu sự tồn tại, phát triển, suy vong của rất nhiều nền văn hóa văn minh. Nhu cầu trao đổi, buôn bán, giao lưu hoặc do điều kiện sống thay đổi, tham vọng bành trướng đã dẫn tới sự đụng độ, giao thoa giữa các nền văn hóa. Sự giao thoa này có thể diễn ra theo hai chiều hướng, hoặc tương hỗ nhau để phát triển hoặc một nền văn minh lớn hơn, mạnh mẽ hơn thôn tính và tiêu diệt nền văn minh nhỏ yếu hơn. Theo dòng thời gian, những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật của các nền văn hóa không những giảm bớt những gánh nặng trong đời sống mà còn giúp con người chinh phục thiên nhiên, chinh phục những khoảng cách vô tận của đại dương trong những cuộc viễn chinh hay những cuộc giao thương.
Vào thế kỷ XV-XIX, thời đại của những cường quốc đại dương phương Tây muốn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình sang các nước phương Đông, nhưng cũng là thách thức khắc nghiệt đối với những nền văn minh phương Đông. Nếu suy nghĩ theo chiều hướng tích cực, sự giao thoa, xung đột giữa các nền văn minh là thời điểm để các quốc gia phương Đông tự nhìn nhận lại mình, đánh giá và phát huy sức mạnh nội tại, đồng thời học hỏi những thành tựu tiên tiến, văn hóa đặc sắc từ những nền văn hóa bên ngoài. Có thể coi sự phát triển huy hoàng, rực rỡ của văn minh phương Đông thời cổ trung đại đã bị văn minh phương Tây vượt qua. Ở đây, dân tộc Nhật Bản đã kiên quyết loại bỏ những suy nghĩ thiển cận, lạc hậu để tiếp cận, học hỏi những tri thức tiến bộ từ phương Tây, một con đường hoàn toàn khác biệt so với chủ trương đóng cửa, tiếp tục run sợ và cuối cùng là bị phương Tây chinh phục như các dân tộc khác ở khu vực Đông Á.
Thời kỳ trước Minh Trị Duy tân 1. Giao thương với phương Tây và phản ứng của người Nhật Thời kỳ từ thế kỷ VII-IX là thời kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của nhà nước Nhật Bản cổ đại. Đây là thời kỳ Nhật Bản hướng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh đến trung tâm văn minh Trung Hoa. Thời kỳ này, văn hóa Đường (618-907) phát triển hưng thịnh và rực rỡ với nhiều thành tựu khai nở ở Trung Quốc.
Nhiều đoàn trí thức và tu sĩ Nhật Bản đã lên đường sang Trung Quốc lưu học để mang những tri thức học được về chấn hưng văn hóa dân tộc. Từ đầu thế kỷ XV, sau một thời gian khá dài phát triển tương đối ổn định của Mạc phủ Muromachi, lịch sử Nhật Bản lại trải qua quá trình tranh giành quyền lực mới. “Động lực căn bản của cuộc chiến tranh đó là sự thèm khát đất đai mãnh liệt của giới quân sự địa phương, những người chịu sức ép mạnh trong việc tăng cường sở hữu của mình” [42, tr 53]. Là những gia tộc lớn, các thủ lĩnh quân sự cần nhiều đất để chia cho con cháu và cấp cho chư hầu.
Nhưng phần lớn đất đai, về danh nghĩa lại thuộc về quyền sở hữu của nhà nước với sự quản lý của đội ngũ quan chức địa phương. Trong điều kiện chính quyền trung ương suy yếu, bằng sức mạnh quân sự, các tập đoàn võ sĩ đều ra sức lấn chiếm đất đai, biến đất công thành sở hữu tư nhân và khẳng định vị thế của mình trong một trật tự xã hội mới. Từ cuối thế kỷ XV, nhiều lãnh chúa có thế lực đã kiểm soát được cả những cơ sở tôn giáo và nhiều trang viên nhỏ yếu khác. Chiếm được đất, họ có toàn quyền sử dụng theo mục đích của mình và không phải dâng nạp một phần thu nhập như trước nữa.
Đây chính là động lực để các lãnh chúa mở rộng hơn nữa thế lực của mình thông qua con đường chiến tranh và tranh đoạt quyền lực. Tuy nhiên, các cuộc tấn công lấn chiếm đất đai không chỉ làm xáo trộn các mối quan hệ xã hội truyền thống mà còn phá vỡ những cơ sở kinh tế thiết yếu vốn có của trang viên. Nguyên tắc cùng chịu trách nhiệm và hưởng lợi nhuận theo địa vị giờ đây đã được thay thế bằng chế độ lĩnh canh và sự phục thuộc thân phận trực tiếp của nông dân với lãnh chúa. Đây cũng là quá trình tan rã của tình trạng kinh tế khép kín, tự cung tự cấp vốn đã tồn tại lâu dài trong xã hội Nhật Bản để mở ra những khả năng phát triển, giao lưu kinh tế rộng lớn hơn.
Trong khi đó trên thế giới từ thế kỷ thứ XV, chủ nghĩa tư bản bắt đầu có những phát triển mạnh mẽ ở châu Âu. Các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội phát triển nhanh chóng về cả chất và lượng. Năng suất lao động tăng cao, thị trường hàng hóa phát triển đến độ bão hòa. Nhu cầu mở rộng thị trường, tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa mới lạ với chất lượng hảo hạng, tìm kiếm nguồn nhân lực và nguyên liệu mới đã thúc đẩy người châu Âu lên đường tìm những miền đất mới.
Những chuyến đi này đã mang lại những phát kiến địa lý vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tìm ra những vùng đất mới và nối liền hoạt động thương mại giữa các châu lục, đặc biệt giữa phương Đông và phương Tây. Cũng trong giai đoạn này, ở châu Âu nổi bật lên Phong trào văn hóa phục hưng, nó như một cuộc cách mạng tinh thần, hướng tới chủ nghĩa nhân đạo, cách mạng khoa học. Bên cạnh đó, Phong trào cải cách tôn giáo và canh tân giáo hội, nhằm khẳng định vị trí của Kitô giáo so với Hồi giáo, và mở rộng ảnh hưởng của Kitô giáo ra bên ngoài, cũng đã có nhiều ảnh hưởng lớn. Phương Đông trong con mắt của những nhà thám hiểm, thương gia phương Tây là một vùng đất trù phú, hưng thịnh với Ấn Độ, Trung Hoa giàu có, Đông Nam Á đặc sắc với sản vật, hương liệu phong phú.
Trong cơn khát vàng, hương liệu, của cải đó, rất nhiều thương nhân phương Tây trên các thuyền đi biển Caraven sử dụng la bàn, bánh lái cải tiến và một hệ thống các cột buồm tìm đến Ấn Độ, Trung Hoa, và cả vùng quần đảo Zinpangu (Nhật Bản) hết sức giàu có mà Marco Polo đã từng mô tả trong tác phẩm Travel (Viễn du) nổi tiếng. Sức hấp dẫn của các vùng hương liệu, trữ lượng và đặc tính của trầm hương, sừng tê giác, ngọc trai, ngà voi. đã tạo nên một huyền thoại về “Thế giới phương Đông”, nơi mà của cải không bao giờ cạn kiệt. Đến giữa thế kỷ XVI, Nhật Bản mới bắt đầu tạm ổn định sau một thời gian dài nội chiến liên miên do sự tranh chấp giữa các lãnh chúa và các đại gia đình quý tộc, dù rằng cuộc chiến tranh giành quyền lực vẫn còn diễn ra giữa vài đại gia tộc quyền quý.
Như là định mệnh sắp đặt, 3 thương nhân người Bồ Đào Nha đã tình cờ tìm thấy Nhật Bản khi trên đường tới Trung Hoa bị bão thổi giạt vào Tanegashima vào ngày 23-9-1543 [17]. Họ trở thành những người phương Tây đầu tiên đặt chân 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến Nhật Bản. Chiến tranh liên miên, sản xuất đình trệ, hàng hóa thiếu thốn, hiếu kỳ với nền văn minh tới từ phương trời xa xôi khiến người Nhật vô cùng hăm hở với những thứ hàng hóa, kiến thức, tư tưởng phương Tây mới lạ. Năm 1545, chỉ 2 năm sau cuộc khám phá đầy bất ngờ, người Bồ Đào Nha nhanh chóng thiết lập quan hệ giao thương với Nhật Bản khi nhận thấy tiềm năng giao thương vô cùng to lớn của quốc gia này.
Những chuyến tàu buôn phương Tây ngay khi vừa ghé vào vùng biển Nhật Bản đã được các lãnh chúa địa phương chào đón với thái độ ưu ái đặc biệt. Ở vùng Kyushu, không ít lãnh chúa còn háo hức mời gọi thương nhân phương Tây đến buôn bán tại các cảng mà họ kiểm soát. Nhờ có những điều kiện thuận lợi đó mà chỉ trong vòng một thập kỷ các thương nhân Bồ Đào Nha đã xác lập được vị trí của mình tại Nhật Bản. Với lợi thế có tàu đi biển trọng tải lớn, tốc độ cao và trang bị vũ khí hiện đại, thương nhân Bồ Đào Nha có khả năng cung cấp những loại hàng hóa được sản xuất từ phương Tây và một số nước châu Á xa xôi khác.
Những mặt hàng mà họ đem đến đã có sức hấp dẫn lớn, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, mục đích quân sự cũng như óc hiếu kỳ của người Nhật. Tuy nhiên vào thời kỳ này, do sự tác động của cuộc nội chiến trong nước nên Nhật Bản vẫn chưa thể có một chủ trương chung về phát triển quan hệ thương mại mà hoạt động buôn bán đa phần phụ thuộc vào chính sách của các lãnh chúa. Do đó, việc giành được quyền mở cảng và đặt thương điếm ở Nagasaki là kết quả của cả một quá trình thăm dò, thương thuyết bền bỉ của người Bồ Đào Nha với các lãnh chúa Nhật Bản. Năm 1571, sau khi tập hợp được hầu hết các thương nhân ở Hirado, shimabara.
về Nagasaki, Omura ① đã ra lệnh xây dựng 6 khu phố: Shimabara Machi, Omura Machi, Bunchi Machi, Hokaura Machi, Hirado Machi và Yokoseura Machi. Từ đó Nagasaki trở thành trung tâm buôn bán với nước ngoài ở vùng Tây – Nam Nhật Bản. Để tránh những cuộc tấn công của các lãnh chúa có tư tưởng chống đối, bảo vệ an toàn cho thương cảng mới được xây dựng cũng như cuộc sống của bản thân ở Nagasaki, các thương nhân Bồ Đào Nha phải nộp cho ① Lãnh chúa thứ 4 của Hirado thời kỳ Edo (1600-1868) 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãnh chúa địa phương một khối lượng vàng lớn. Thêm vào đó, hàng năm theo yêu cầu của Omura, họ còn phải giao cho các quan chức sở tại một khoản tiền trị giá 1000 ducat bạc và nhiều khoản chi phí lớn khác để hoàn thiện việc xây cảng, làm nhà chung hay thuê cơ sở truyền đạo.
Các tàu Bồ Đào Nha đến buôn bán ở Nhật Bản thường có trọng tải từ 600-700 tấn và chở theo khoảng 200 người. Các tàu này thường xuất phát từ Goa tới Nagasaki và thường chở theo nhiều mặt hàng được sản xuất ở châu Âu như: lông thú, nhung, pha lê, thủy tinh, đồng hồ, ống nhòm, la bàn, thuốc lá, rượu Bồ Đào Nha và một số sản phẩm từ Trung – Nam Á như thủy tinh, vải hoa Ấn Độ.