Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về rối loạn dạng cơ thể (RLDCT) RLDCT đã đƣợc quan tâm và nghiên cứu từ lâu ở các nƣớc có nền khoa học tiên tiến nhƣ châu Âu và Mỹ. Đầu tiên là trƣờng hợp điều trị hysteria đầu tiên là của Freud vào năm 1880.Tiếp theo là Charcot, chuyên điều trị những bệnh nhân đã mắc phải một loạt các triệu chứng không rõ nguyên nhân vật lý bao gồm tình trạng tê liệt, co rút (cơ bắp hợp đồng đó và không thể đƣợc thƣ giãn) và co giật.
Một số những bệnh nhân này không thƣờng xuyên và buộc phải thông qua một tƣ thế kỳ lạ (christened cung-de- cercle), trong đó họ cong cơ thể của họ ngƣợc trở lại cho đến khi họ đƣợc hỗ trợ chỉ bằng đầu và gót chân của họ. Charcot cuối cùng đi đến kết luận rằng nhiều bệnh nhân của ông đã mắc phải một hình thức cuồng loạn đó đã đƣợc gây ra bởi phản ứng cảm xúc của họ đến một tai nạn chấn thƣơng trong quá khứ của mình. Họ phải chịu đựng, theo quan điểm của ông, không phải từ những tác động vật lý của tai nạn, nhƣng từ ý tƣởng của họ đã hình thành của nó.Freud đã vô cùng ấn tƣợng bởi công việc của Charcot là cuồng loạn sau chấn thƣơng và từ đó quan niệm rằng một trong những hình thức chủ yếu của căn bệnh đó là nhữngtrải nghiệm đau thƣơng dẫn đến quá trình hình thành vô thức, triệu chứng. Ông bắt đầu phát triển ý tƣởng này với một đồng nghiệp y Nguyễn Thị Diệu Anh Page 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế là Josef Breuer.
Trƣờng hợp đầu tiên ông tham gia điều trị là Anna vào năm 1880. là một phụ nữ 21 tuổi, ngƣời đã bị ốm trong khi điều dƣỡng cha cô ngƣời cuối cùng chết vì một áp xe củ. Bệnh tình của cô đã bắt đầu với một cơn ho nặng, sau đó phát triển một số triệu chứng khác về thể chất, bao gồm tình trạng tê liệt của các chi của phía bên phải của cơ thể, co, rối loạn thính giác, thị giác và ngôn ngữ. Cô cũng bắt đầu kinh nghiệm sai sót của ý thức và ảo giác.
Breuer chẩn đoán bệnh của Anna O. nhƣ là một trƣờng hợp cuồng loạn và dần dần phát triển một hình thức trị liệu mà ông tin là có hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng của cô. Đối với Freud, ông hiểu triệu chứng của xuất phát từ các sự cố đau thƣơng và có sự dồn nén của tình dục nơi bệnh nhân mình. Đối với trƣờng hợp này, Freud đƣợc nhắc đến nhƣ ngƣời đầu tiên điều trị ra bệnh lý Hysteria, mà ngày nay gọi là Rối loạn chuyển dạng, nằm trong Rối loạn dạng cơ thể.
Ông nhận thấy có những trải nghiệm đau thƣơng trong quá khứ đối với những bệnh nhân này, điều này đƣợc ghi nhận ở những ngƣời nghiên cứu sau Freud.Tuy nhiên, nguyên nhân về sự dồn nén tình dục không đƣợc các nhà tâm lý sau này đồng ý. Trong nghiên cứu “Somatization in Pediatric Primary Care” của John V.Campo, Linda Jansen-MC Williams và Kelly J. Kenleher có mô tả về những cá nhân than phiền về những triệu chứng y khoa có thật nhƣng không giải thích đƣợc từ các xét nghiệm, nhƣ đau đầu, đau bụng, đau tay chân, mệt mỏi, các triệu chứng tiêu hóa là rất phổ biến (Alfven, 1993; Eminson và cộng sự, 1996; Garber và cộng sự, 1991; Offord và cộng sự, 1987; Oster, 1972) [14;1093]. Những triệu chứng này tăng từ khoảng giữa tuổi thơ bƣớc sang tuổi vị thành niên (Offord và cộng sự, 1987).
Nguyễn Thị Diệu Anh Page 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một bài viết khác nói về nguy cơ tự tử của bệnh nhân có RLDCT mà nguyên nhân là do yếu tố trầm cảm gây nên [20]. Những nhà nghiên cứu cho rằng nỗ lực tự sát dƣờng nhƣ là một sự kiện thƣờng xuyên trong bệnh nhân mắc chứng RLDCT (Morrison Herbstein, 1988; Purtell, Robins, Cohen, 1951; Woodruff, Clayton và Guze, 1972), tuy nhiên, những bệnh nhân này có RLDCT do nguyên nhân trầm cảm gây ra. Dữ liệu từ một đơn vị Nghiên cứu dịch tễ học tƣơng lai của thanh thiếu niên tại Munich, Đức, với cách thức theo dõi khách thể trung bình 42 tháng, khách thể là những ngƣời có rối loạn tâm lý sau chấn thƣơng, vấn đề xã hội, lạm dụng tình dục, lạm dụng chất, rối loạn ăn uống, đã cho kết quả là có 48% trong số đó có rối loạn dạng cơ thể, tập trung nhiều ở nữ giới. Những tác giả này còn đƣa ra nhận xét, đối với những phụ nữ có trải nghiệm lạm dụng chất, rối loạn lo âu, thì đây là yếu tố cho sự khởi đầu của RLDCT [20].
Nói riêng về những nghiên cứu về Rối loạn dạng cơ thể ở trẻ em và VNT, Mary Lynn Dell có nói về thuật ngữ đƣợc dùng trong y tế cho RLDCT là mus-somatoform – các triệu chứng cơ thể không rõ nguyên nhân, và triệu chứng này đƣợc than phiền rất phổ biến trong cộng đồng và trong bệnh nhân đến khám, trong đó, thanh thiếu niên chiếm 15% [19;44]. Những triệu chứng đƣợc đề cập ở đây là nhức đầu, đau nửa đầu, đau bụng, nôn ói, mệt mỏi, đau ngực, đau lƣng [19;15-59]. Trong kết quả nghiên cứu “Hội chứng RLDCT ở trẻ em và VTN” của Roselind Lieb, Hildegard Poster và cộng sự cho thấy, các trẻ VNT nữ gặp RLDCT nhiều hơn trẻ VNT nam với giả thuyết là do độ nhạy cảm của giới nữ với sự thay đổi về cơ thể [21;27-52]. Tuy nhiên, bài viết chƣa cung cấp lý do rõ ràng cho giả thuyết này.
Những nghiên cứu về nguyên nhân của rối loạn dạng cơ thể Nguyễn Thị Diệu Anh Page 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói đến những nguyên nhân của RLDCT, một khảo sát cộng đồng về hành vi rối loạn cơ thể hóa trong một dân số nhập cƣ ở Israel, các tác giả này đã tìm thấy mối liên hệ của RLDCT với triệu chứng đau khổ tâm lý và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp đƣợc chăm sóc sức khỏe tinh thần. Kết quả cho thấy, có 21.9% ngƣời có rối loạn cơ thể hóa với các triệu chứng đƣợc than phiền nhiều hơn cả là đau tim hoặc đau ngực, cảm giác yếu trong cơ thể, buồn nôn. Rối loạn cơ thể hóa có tƣơng quan thuận với cƣờng độ đau khổ tâm lý và với hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ tâm lý. Phụ nữ có tỉ lệ nhiều hơn nam giới, những ngƣời li hôn hoặc góa chồng có tỉ lệ cao hơn những ngƣời đang sống với gia đình.
Từ đó, các tác giả này kết luận rằng, rối loạn cơ thể hóa là một vấn đề giữa các cá nhân trong quá trình chuyển đổi giữa các nền văn hóa, và có mối liên hệ với đau khổ tâm lý, với yếu tố nhân khẩu học nhƣ giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, thời gian nhập cƣ [25;385-392]. Khi nghiên cứu về RLDCT VTN, Larry L. Olson, và John M.Chaney đã có cái nhìn về phƣơng pháp hệ thống (gia đình) trong việc điều trị các RLDCT cho trẻ em và VTN. Nghiên cứu này cho thấy, trong lý thuyết và thực hành lâm sàng, yếu tố gia đình thƣờng bị bỏ qua hoặc không đƣợc nhấn mạnh, nhƣng thực tế, yếu tố gia đình ảnh hƣởng nhiều đến vấn đề bệnh lý của VTN [15;201-212].
Cũng nhƣ vậy, một nghiên cứu khác nói về môi trƣờng gia đình có ảnh hƣởng đến RLDCT của VTN, đó là nghiên cứu của Lisa Terre và William Ghiselli.Nghiên cứu này cho thấy gia đình đóng vai trò đáng kể trong rối loạn cơ thể hóa trên 933 trẻ em và VTN [18].Routh của Đại học Lowa đã nghiên cứu nguyên nhân của RLDCT với 20 trẻ em và thanh thiếu niên bị đau bụng không rõ nguyên nhân (KRNN) và 20 trẻ khác có cơn đau bụng có nguyên nhân. Kết quả cho thấy các phụ huynh của các em này có tiền sử đau bụng KRNN, nghiện rƣợu, rối Nguyễn Thị Diệu Anh Page 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loạn chống đối xã hội hay rối loạn hành vi, rối loạn kém tập trung hoặc rối loạn cơ thể hóa, trong đó các bà mẹ lại có tỉ lệ nhiều hơn các ông bố. Nghiên cứu này còn khẳng định là thêm bằng chứng cho sự tồn tại của tiền chất rối loạn cơ thể hóa trong thời thơ ấu của VTN [12]. Nghiên cứu của Linda K.Reynolds và cộng sự về những than phiền stress và RLDCT trong thanh thiếu niên đô thị có thu nhập thấp, nghiên cứu này cho thấy có sự liên quan giữa stress với những phàn nàn về cơ thể.
Nghiên cứu này có 1.030 học sinh từ lớp 6 đến lớp 8.Kết quả chỉ ra rằng, cả nam lẫn nữ đều có rối loạn cơ thể hóa với những triệu chứng nhƣ đau bụng, đau đầu, tỉ lệ nữ nhiều hơn nam [17]. Năm 2007, OliverOyama,CatherinePaltoovàGreengoldJulian, Đại họcSouth Florida, Clearwater, Florida[23] khi nghiên cứu về rối loạn dạng cơ thể, các tác giả này có viết: Ít được biết về những nguyên nhân của rối loạn dạng cơ thể. Giới hạn dữ liệu dịch tễ học cho thấy mối liên hệ gia đình có ảnh hưởng đến, và lý do thêm nữa là các rối loạn sức khỏe tâm thần khác, chẳng hạn như rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống. Các tác giả này chƣa nêu đƣợc những nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ sâu xa, có vai trò nền tảng, mầm bệnh, mà chỉ dừng lại ở những biểu hiện của lo âu, trầm cảm, khí sắc, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống.
Những nguyên nhân mà các tác giả trên nêu có thể góp phần vào cơ chế sinh bệnh của bệnh nhân có rối loạn này. Cũng nhƣ vậy, các tác giả chƣa nêu lên mối liên hệ giữa sang chấn tâm lý và rối loạn dạng cơ thể. Cũng nhƣ vậy, bác sỹ tâm thần WilliamRYates, Đại họcOklahomaĐại họcY khoatạiTulsa[25], với bài nghiên cứu về rối loạn dạng cơ thể cho rằng không có nguyên nhân dứt khoát cho hầu hết các rối loạn dạng cơ thể.Di truyền và ảnh hƣởng đến môi trƣờng xuất hiện có thể coi là yếu tố góp phần.Trẻ em lớn lên ở trong gia đình có cha mẹ đã từng bị rối loạn dạng cơ Nguyễn Thị Diệu Anh Page 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể có nguy cơ cao cho việc phát bệnh này về sau. Lạm dụng tình dục có thể đƣợc kết hợp với tăng nguy cơ bị rối loạn dạng cơ thể sau này trong đời.Nghèo khả năng diễn đạt cảm xúc có thể dẫn đến rối loạn dạng cơ thể.Lạm dụng rƣợu và ma túy thƣờng gặp ở bệnh nhân rối loạn dạng cơ thể.
Bệnh nhân có thể cố gắng để điều trị triệu chứng đau của họ với rƣợu hoặc các thuốc khác.