ĐẶT VẤN ĐỀ Căng thẳng tâm lí (stress) luôn tồn tại song hành cùng với sự phát triển của con người ở mọi thời đại. Tình trạng stress ban đầu có thể giúp cá nhân chủ động ứng phó với các tác nhân từ môi trường sống đồng thời sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển cá nhân, đó là những stress có lợi [42]. Tuy nhiên nếu stress xảy ra với cường độ cao hoặc kéo dài hay lặp đi lặp lại nhiều lần có thể phá vỡ sự cân bằng sinh học của cơ thể, làm nảy sinh nhiều vấn đề sức khoẻ thể chất và tinh thần như lo âu, trầm cảm, các bệnh lý tim mạch, hô hấp, tiêu hóa., đó là những stress có hại hay bệnh lý [43]. Theo báo cáo của WHO năm 2012 cho thấy có 25% dân số thế giới gặp các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và trung bình mỗi năm có khoảng 800.000 người chết do trầm cảm – một trong những hệ quả nặng nề của stress [71] – dự đoán đến năm 2020, các vấn đề sức khỏe tâm thần sẽ là gánh nặng bệnh tật lớn thứ hai toàn cầu chỉ đứng sau bệnh tim mạch [70].
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc năm 2017 về Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên tại một số tỉnh và thành phố tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam dao động từ 8% đến 29% [13]. Giai đoạn đại học là giai đoạn có nhiều chuyển biến trong cuộc đời sinh viên Đây là giai đoạn sinh viên thích nghi với môi trường học tập, sinh hoạt năng động, tự lập, thiết lập tình bạn, tình yêu và các hoạt động trải nghiệm khác chuẩn bị hành trang vào đời. Đây cũng là giai đoạn chuyển từ tuổi dậy thì sang tuổi trưởng thành [22]. Thêm vào đó, giai đoạn này cũng gây nhiều stress trong sinh viên vì: áp lực học tập, thi cử, lo lắng về nghề nghiệp tương lai, đổ vỡ các mối quan hệ, điều kiện kinh tế khó khăn.
Trong đó, sinh viên ngành y, dược được xem là nhóm đối tượng dễ bị stress nhất do đặc thù ngành học nhiều áp lực, trách nhiệm cao, thường xuyên phải thực tập tại các bệnh viện, trực đêm, tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, đối mặt với nguy cơ lây nhiễm bệnh… [37], [63]. 2 Các nghiên cứu về stress của sinh viên y khoa tại các nước trên thế giới đều cho thấy ngày càng có nhiều sinh viên y khoa phải đối mặt với nguy cơ stress tâm lý, rối loạn tâm thần làm suy giảm chất lượng cuộc sống với mức độ stress ngày càng cao [39], [44], [53], [57]. Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang là trường y dược đào tạo đa ngành bao gồm điều dưỡng, hộ sinh, dược sĩ và y sĩ. Mỗi năm trường tuyển sinh 1200 - 1300 sinh viên cao đẳng.
Qua khảo sát ý kiến của sinh viên về kết quả học tập năm học 2016 – 2017 của Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang cho thấy phần lớn (78%) sinh viên cho rằng lịch học khá dày đặc, cường độ học tập cao, áp lực thi cử cộng với lịch thực tập, trực bệnh viện gây nhiều căng thẳng, mệt mỏi. Điều này có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tâm lý của sinh viên [21]. Trường hiện đang trong giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất và chuyển đổi chương trình đào tạo từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ nên gây một số khó khăn, bỡ ngỡ đối với sinh viên. Trước thực trạng trên, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: (1) Thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang hiện nay ở mức độ như thế nào? (2) Những yếu tố nào liên quan đến tình trạng stress của sinh viên? Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018 và một số yếu tố liên quan” từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp giúp cải thiện tình trạng stress ở sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang nói riêng và tất cả sinh viên nói chung.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm stress và stressor Khái niệm stress “Stress” là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu [35]. Đến năm 1915, tiến sĩ sinh lý học người Mỹ Walter Cannon nhắc đến “stress” lần đầu tiên trong cuốn sách “Sự khôn ngoan của cơ thể” để nói về những thay đổi của cơ thể khi đau đớn, đói, sợ hãi, giận dữ và một số cảm xúc cơ bản khác [32]. Tuy nhiên, người có công lớn trong việc chính thức đưa ra khái niệm stress một cách khoa học và được coi là cha đẻ của định nghĩa stress đó là nhà nội tiết học người Canada Hans Selye.
Theo Hans Selye (1956): "Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng" và stress có mặt lợi đó là kích thích tính tích cực, huy động sức mạnh để con người vượt qua khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu vượt qua khả năng đáp ứng của cơ thể, sẽ gây ra tình trạng ốm đau, bệnh tật. Sau phát hiện của Hans Selye có rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về stress. Năm 1966, nhà tâm lý học Richard S.Lazarus đưa ra định nghĩa stress là sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực. Theo ông stress xảy ra khi tình trạng cân bằng bình thường của cơ thể con người bị phá vỡ.
Lúc này, hormone adrenaline được tiết ra, gây căng thẳng thần kinh, tim đập nhanh, áp suất máu cao, nhịp thở tăng, mắt giãn ra, các cơ căng ra…[50]. Stress được định nghĩa với nhiều cách khác nhau như stress là một tác nhân môi trường [47], một đáp ứng sinh lý [60], là một phản ứng khi có sự thay đổi về sinh lý, tâm lý và cảm xúc [28]. Như vậy, từ các góc độ khác nhau stress sẽ được hiểu dưới định nghĩa khác nhau. 5 Khái niệm stressor Stressor là thuật ngữ được Hans Selye đưa ra năm 1956 để chỉ những nguyên nhân tiềm ẩn gây ra stress.
Những nguyên nhân gây ra stress có thể là nguyên nhân về sinh lý (tuổi, giới, di truyền…), cảm xúc (giận dữ, sợ hãi… ), hành vi (uống rượu, hút thuốc, thói quen ăn uống…), điều kiện môi trường (nhiệt độ, tiếng ồn, ô nhiễm môi trường…), các vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày và các mối quan hệ xã hội [61]. Stressor có thể xảy ra trong một thời gian ngắn, tức thì như tình trạng bị thương, bị tấn công hay xảy ra trong thời gian dài như tình trạng bị lạm dụng, bị bắt nạt, áp lực trong học tập, thi cử hay áp lực trong công việc [59]. Khái niệm sức khỏe tâm thần Sức khỏe tâm thần (mental health) là một nội dung nằm trong định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới “… là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là tình trạng không bệnh tật hay đau yếu. Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2003 thì sức khỏe tâm thần được định nghĩa là “trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những stress thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” [72].
Như vậy định nghĩa này có nhấn mạnh tới stress trong cuộc sống, học tập, làm việc và mối liên quan đến sức khỏe tâm thần của mỗi cá nhân. Tổng quan về stress 1. Các mức độ của stress Có nhiều cách khác nhau phân loại mức độ stress. Theo Hans Selye (1956), stress có hai mức độ là stress tích cực (eustress) và stress tiêu cực (distress).
Mức độ eustress: là mức độ bình thường, là phản ứng thích nghi của cơ thể trước những tác 6 nhân. Nếu những yếu tố gây stress ở một giới hạn nào đó và cá thể có thể vượt qua bằng cách huy động các nguồn lực của mình. Trường hợp này, stress mang tính tích cực vì nó có tác dụng như một thách thức tạo một động cơ để cá thể phấn đấu vượt qua và qua quá trình thích nghi này đã tự hoàn thiện mình để tiếp tục tồn tại và phát triển. Mức độ distress: là stress ở mức độ cao, biểu hiện sự phản ứng thích nghi của cơ thể bị thất bại, do yếu tố gây stress quá mạnh hoặc trường diễn cơ thể dù huy động hết khả năng nhưng không thể vượt qua và không thể thích nghi được với hoàn cảnh mới thì cơ thể sẽ dẫn đến cạn kiệt các nguồn lực và lúc đó khi mà sức đề kháng của cơ thể không còn, trầm cảm và hàng loạt các bệnh cơ hội xuất hiện [61].
Theo tác giả Nguyễn Thành Khải (2001) stress được phân làm ba mức độ: Mức độ 1: là mức độ rất căng thẳng, chủ thể cảm nhận tâm lý rất căng thẳng, đây là trạng thái khó chịu của con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoát khỏi nó. Mức độ 2: căng thẳng, con người cảm nhận thấy có sự căng thẳng cảm xúc, sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn, các chỉ số về sinh lý tăng mạnh. Nếu trạng thái này kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang mức độ rất căng thẳng. Sự bền vững của mức độ này tuỳ thuộc vào mức độ, tính chất công việc hay tâm lý của từng người.
Mức độ 3: ít căng thẳng. Ở mức độ này, con người cảm thấy bình thường hoặc căng thẳng nhẹ, mọi hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường, sự thay đổi không đáng kể, cơ thể huy động năng lượng ở mức vừa phải [8]. Theo tác giả Đặng Phương Kiệt (2004) stress được chia làm ba mức độ như sau: stress mức độ nhẹ là mức độ chủ thể có thể cảm nhận căng thẳng như là một thách thức làm tăng thành tích trong công việc. Stress mức độ vừa là mức độ phá vỡ những nguyên lý cơ bản của con người dẫn đến những biểu hiện không tốt lặp đi lặp lại nhiều lần.