CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Mô ̣t số khái niêm ̣ sử du ̣ng trong nghiên cứu 1. Khái niệm căng thẳng: Thuật ngữ “stress” lần đầu tiên được sử dụng ở thế kỷ 14 để chỉ những khó khăn, nghịch cảnh hoặc phiền não. Trong luận văn này chúng tôi sử dụng thuật ngữ “căng thẳng” được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt tương đương với thuật ngữ “stress”.
Hiện nay, thuật ngữ căng thẳng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Có nhiều người nói đến căng thẳng như một nguyên nhân, có người nói đến như hậu quả. Có người nhìn nhận thuần tuý dưới góc độ sinh học, như là phản ứng mang tính sinh lý của cơ thể, trong khi các nhà tâm lý học đề cập đến cả yếu tố sinh học và tâm lý. Người có công lớn trong việc đưa ra khái niệm căng thẳng một cách khoa học là H.
Từ phát hiện của H.Selye, rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về căng thẳng. Nhà tâm lý học Richard Lazarus đưa ra định nghĩa: Căng thẳng là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động được (1). Có thể thấy căng thẳng tùy vào các góc độ khác nhau sẽ được hiểu dưới những định nghĩa khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa của Richard Lazarus do định nghĩa này phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu.
Khái niệm về vị thành niên và học sinh trung học phổ thông: Tổ chức Y tế Thế giới quy định lứa tuổi 10-19 tuổi là độ tuổi vị thành niên (13). Đây cũng là giai đoạn nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi nhanh chóng về thể chất, tâm lý và hành vi. Vị thành niên đóng vai trò là một nhóm xã hội và nhân khẩu học quan trọng trong khu vực Đông Nam Á với một phần năm, tương ứng khoảng 18,8% (362,2 triệu người) trong tổng số dân trong khu vực (14). Trong đó, nhóm 13-17 tuổi có khoảng 181 triệu người hay tương đương một phần mười (9,4%) tổng dân số trong khu vực (15).
5 Tại Việt Nam, vị thành niên được chia làm ba nhóm: - Nhóm vị thành niên sớm từ 10-14 tuổi - Nhóm vị thành niên giữa từ 15-17 tuổi - Nhóm vị thành niên muộn từ 18-19 tuổi Theo điều tra biến động dân số của Tổng cục Thống kê, tính tại thời điểm 1/4/2016, vị thành niên chiếm 14,6% tỷ trọng dân số cả nước, trong đó nhóm 15-17 tuổi chiếm khoảng 4,3% (16). Năm 2019, vị thành niên chiếm 16,5% tỷ trọng dân số cả nước (17). Trong nghiên cứu này, độ tuổi được quan tâm đến là nhóm vị thành niên từ 15-18 tuổi và là nhóm vị thành niên đang theo học cấp THPT. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 1.
Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh THPT Đặc điểm cơ bản của học sinh THPT về thể chất là cơ thể đã trải qua giai đoạn phát triển nhiều biến động như chức năng các tuyến sinh dục, tuyến nội tiết hoạt động mạnh, phát triển về chiều cao, kích cỡ, thể lực. Với sự tăng trưởng nhanh, nhu cầu năng lượng hàng ngày cao hơn các giai đoạn khác, khi chế độ ăn không hợp lý có thể ảnh hưởng bất lợi cho sự phát triển cơ thể, tâm thần và hành vi ứng xử, ở những học sinh gặp tình trạng suy dinh dưỡng hay béo phì. Thời kỳ trưởng thành về giới tính, đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ khủng hoảng về biến đổi sinh lý để chuyển sang thời kỳ ổn định, cân bằng hơn. Ở trên cả các mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt phát triển của thể chất (18,19,20).
Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh THPT - Sự phát triển của tự ý thức ở lứa tuổi này đã phát triển mức độ cao, có liên quan đến nhu cầu tìm hiều và đánh giá những thuộc tính tâm lý theo quan điểm, mục đích sống, hoài bão. Chính điều này, làm cho các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất, nhân cách và năng lực của mình. Nếu như học sinh trung học cơ sở thường đặt bản thân mình vào hiện tại thì ngược lại học sinh THPT lại đặt bản thân mình vào tương lai. Vì vậy, các em quan tâm nhiều đến cuộc sống sau này, tình yêu, gia đình, nghề nghiệp và lựa chọn bạn đời tương lai (18,21).
6 - Sự phát triển thế giới quan học sinh THPT đã có một quá trình tích lũy hệ thống kiến thức, kỹ năng, hành vi, lối sống. Các em tự xây dựng được một hệ thống quan điểm riêng dựa trên những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội hiện có. Tuy nhiên, thế giới quan chưa thể đạt đến mức sâu sắc và bền vững. - Sự phát triển hoạt động nhận thức: Các giác quan phát triển mạnh tri giác có mục đích đạt tới mức rất cao, quan sát có chủ định, có hệ thống và toàn diện hơn.
Khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng diễn ra một cách độc lập sáng tạo, đồng thời tư duy của các em cũng chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn, tính phê phán cũng phát triển. - Đặc điểm hoạt động giao tiếp: ở lứa tuổi này mang tính chất tập thể, điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với những bạn bè cùng trang lứa, cảm thấy mình cần thiết, có uy tín và vị trí nhất định trong nhóm bạn. - Đặc điểm đời sống tình cảm: Một loại tình cảm rất đặc trưng của lứa tuổi này là tình bạn khác giới. Tình cảm yêu đương nam nữ là tình cảm đep đẽ, trong sáng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của các em.
Tình yêu của lứa tuổi này có thể xuất phát từ tình bạn, sự đồng cảm với hoàn cảnh của nhau và sự hòa hợp trong tâm hồn, sự quý mến, cảm phục đối với nhau… Những biểu hiện của loại tình cảm này, nhìn chung rất phức tạp, không đồng đều (18,19,22). Trong thời kỳ này thường thấy những rối loạn chức năng của nhiều cơ quan như hay hồi hộp, tăng huyết áp, những rối loạn về thần kinh: tính tình thay đổi, dễ lạc quan nhưng cũng dễ bi quan hay có những suy nghĩ bồng bột…Giai đoạn này trẻ thường ít bệnh tật hơn cả, tuy nhiên ý định tự tử, hành vi tự tử và các bệnh tâm thần lại xuất hiện nhiều (21). Mô ̣t số công cu ̣ đo lường căng thẳ ng Hiện trên thế giới cũng như Việt Nam, đã có khá nhiều bộ công cụ được sử dụng đo lường mức độ biểu hiện căng thẳng trên các nhóm đối tượng, trong đó có đối tượng vị thành niên có một số thang đo như sau: thang đo tái điều chỉnh xã hội SRRS (Social Readjustment Rating Scale), thang đo cảm nhận căng thẳng PSS (Perveived Stress Scale), thang đo đánh giá mức độ căng thẳng Spielberger, thang đo đánh giá căng thẳng nghề nghiệp JSQ (Job Stress Questionnaire), thang đo căng thẳng cuộc sống 7 nghề nghiệp PLSS (Professional Life Stress Scale, thang đo Trầm cảm, lo âu và căng thẳng DASS (Depression Anxiety Stress Scale) (23). Cụ thể một số thang đo như sau: 1.
Thang đo tái điều chỉnh xã hội SRRS (Social Readjustment Rating Scale): Là thang đo được Thomas Holmes và Richard Rahe phát triển năm 1967 nhằm phát hiện các sự kiện gây ra căng thẳng trong cuộc sống. Thang đo này gồm 43 tiểu mục được coi là các yếu tố gây căng thẳng trong cuộc sống sắp xếp theo trình tự từ mức độ trầm trọng nhất, mỗi tiểu mục được gán cho một giá trị trung bình. Thang đo này được sử dụng để hỏi về những sự kiện xảy ra trong cuộc sống trong vòng 12 tháng qua. Người trả lời chỉ cần đánh dấu về những sự kiện xảy ra với bản thân trong 12 tháng.
Tổng số điểm sau khi cộng lại tất cả các sự kiện sẽ cho kết luận về nguy cơ căng thẳng của người trả lời. Điểm nguy cơ căng thẳng được tính như sau: <149 điểm là mức độ thấp, 150-200 là mức độ nhẹ, 201-299 là mức trung bình, >300 là mức độ nặng. Ưu điểm của bộ thang đo này là khá rộng, có thể bao quá nhiều khía cạnh, không chỉ là bức tranh tổng quá về căng thẳng, còn có thể kiểm tra và đánh giá căng thẳng khá chuẩn. Ngoài ra, do bộ thang đo này được sử dụng để đánh giá tình trạng căng thẳng trong vòng 12 tháng trước nên có thể gặp phải sai số nhớ lại (24).
Bộ thang đo này ban đầu được phát triển và điều chỉnh chỉ để sử dụng với đối tượng là nam giới, tuy nhiên nó cũng có thể cung cấp kết quả hữu ích với cả nam và nữ giới và được công nhận ở các nước Nhật, Mỹ Latinh, Châu Âu và Malaysia (25). Tuy nhiên nhược điểm bộ thang đo gặp phải là câu hỏi còn khá mơ hồ, quá rộng, khả năng tổng hợp kém và nếu tự báo cáo thì có thể không đáng tin cậy. Thêm vào đó, điểm hạn chế của bộ công cụ này khiến cho nó không thể được sử dụng trong nghiên cứu là vì nó không phải khái quát cho đối tượng trẻ tuổi. Thang đo cảm nhận căng thẳng PSS (Perveived Stress Scale) Nhóm Nghiên cứu của Sheldon Cohen đã phát triển hệ thống thang đo bao gồm 3 loại là PSS-4, PSS-10 và PSS-14.
Trong đó PSS-10 là thang đo được sử dụng rộng rãi nhất, vì số câu hỏi vừa phải (bao gồm 10 câu) và dễ sử dụng, giúp đo lường mức độ căng thẳng mà chủ thể nhận thấy trong cuộc sống của họ. Như tại Mỹ, nghiên cứu đánh giá mức độ căng thẳng trong cuộc điều tra quốc gia vào năm 2006 và 2009 đều 8 sử dụng tháng đo này (26). Mỗi câu hỏi có 5 mức lựa chọn là không bao giờ, gần như không bao giờ, đôi lúc, thường xuyên, rất thường xuyên. Các chỉ số định tính này được chuyển sang định lượng từ 0 đến 4 (0: không bao giờ, 1: hầu như không bao giờ, 2: thỉnh thoảng, 3: khá thường xuyên, 4: rất thường xuyên) cho các câu hỏi 1,2,3,6,9,10, riêng các câu 4,5,7,8 thì tính điểm ngược lại từ 4 đến 0, tương ứng 4: không bao giờ, 3: hầu như không bao giờ, 2: thỉnh thoảng, 1: khá thường xuyên, 0: rất thường xuyên.
Điểm số được tính từ 0 đến 40, điểm càng cao cho thấy mức căng thẳng càng nặng. Bộ thang đo này hiện đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng và được sử dụng rộng rãi trong những nhóm cộng đồng khác nhau.