mở đầu bằng chú ý không chủ định, rồi tiếp theo là chú ý có chủ định và có thể kết thúc bằng chú ý không chủ định, mỗi loại đều có vai trò của nó trong cuộc sống. Chú ý được đề cập đến trong rối loạn tăng hoạt động giảm chú ý ở trẻ em cũng chính là sự tập trung chú ý của trẻ vào các hoạt động, nhiệm vụ mà trẻ tham gia hoặc được người lớn giao. Sự tập trung chú ý này là các chú ý có chủ định khi được yêu cầu hoặc sự tập trung chú ý cần thiết để kết thúc một nhiệm vụ, hoạt động. Dựa trên đặc trưng như chú ý đã miêu tả ở trên thì ta có thể hiểu “Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một đối tượng, sự vật… nào đó, để định hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh- tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có kết quả.
Khái niệm về xung động Trong cuộc sống thường ngày sự xung động này thường được thể hiện bằng sự thiếu kiểm soát trong các mối quan hệ xã hội, sự dại dột trong các hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các quy tắc xã hội. Đặc biệt đối với trẻ có rối loạn tăng hoạt động giảm chú ý trẻ thường bột phát hành động mà thiếu sự đắn đo, hay rất khó kiểm soát các hành động và cảm xúc của bản thân trong các tình huống. Các biểu hiện này rất phù hợp với khái niệm về xung động mà từ điển tiếng việt đã đưa ra: “Xung động là luồng kích thích lan từ nơi này sang nơi khác của cơ thể. Các xung động thần kinh thường có tính chất bột phát, có nhận thức nhưng không tự ý, không có chủ định, thường do ảnh hưởng của những kích động mạnh.
Khái niệm rối loạn 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rối loạn tâm thần hay các rối loạn tinh thần là hình thức tâm lý hoặc hành vi các biệt và được cho rằng gây ra sự đau đớn và mất khả năng cư xử, phát triển bình thường. [19, tr5] Rối loạn trong tâm thần học mặc dùng không gây suy giảm các chức năng các cơ quan cơ thể cụ thể, nhưng các rối loạn này lại ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của người mắc rối loạn. Trong rối loạn tâm thần ngoài những ảnh hưởng về mặt cảm xúc, chất lượng các mối quan hệ, thậm chí ảnh hưởng xấu đến chức năng của một vài cơ quan trên cơ thể…. Còn các rối loạn trong y học thường chỉ khu chú vào một vài cơ quan nhất định, và làm suy giảm chức năng của cơ quan bị rối loạn.
Đây chính là những khác biệt cơ bản của rối loạn trong y học và trong tâm lý học. Khái niệm rối loạn tăng động giảm chú ý Theo như cách hiểu trong y học thì rối loạn tăng hoạt động giảm chú ý là bệnh do rối loạn chức năng não, bệnh này thường gặp ở trẻ em từ 3- 6 tuổi và những năm đầu tiểu học. Theo ICD- 10, rối loạn tăng động giảm chú ý (mục F90) được mô tả như sau: rối loạn tăng động giảm chú ý có dấu hiệu khởi phát sớm, là sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài thời gian.[19, tr 258] Theo DSM- 4 thì: rối loạn tăng động giảm chú ý là một mẫu hành vi khó kiểm soát, biểu hiện dai dẳng sự kém tập trung chú ý và tăng cường hoạt động 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách thái quá, khác hẳn mẫu hành vi của những trẻ bình thường cùng tuổi phát triển khác. Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra nhằm tìm kiếm một cách lý giải phù hợp nhất cho rối loạn này, người ta cho rằng các bất thường về thể chất, cấu tạo não bộ đóng một vai trò quan trọng gây ra rối loạn tăng động giảm chú ý, nhưng trên thực tế nghiên cứu thì đến nay vẫn chưa tìm ra một nguyên nhân cụ thể và đặc hiệu nào.
Các chẩn đoán về rối loạn này đôi khi chỉ dừng lại ở “rối loạn suy giảm sự chú ý”, như vậy thì các đánh giá sẽ chỉ hướng việc chẩn đoán tới trẻ hay mơ mộng, lo lắng, thờ ơ, vô cảm, thiếu tập trung… Tuy nhiên, nếu chẩn đoán như vậy xem ra sẽ bỏ sót những khó khăn khác của trẻ. Nhưng rõ ràng đây cũng chính là những nét đặc trưng của rối loạn này. Rối loạn tăng động giảm chú ý thường bắt đầu sớm trong quá trình phát triển, thường là trước 5 tuổi. Các nét đặc trưng và dễ nhìn thấy nhất ở rối loạn này chính là sự thiếu kiên trì trong các hoạt động đòi hỏi sự tham gia của quá trình nhận thức, và những tác nhân có rối loạn này thường có khuynh hướng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác mà chưa hoàn thành hoạt động nào cả.
Các cá nhân này thường dễ rơi vào các tình trạng xung động quá mức, thiếu tổ chức và điều tiết trong mọi hoạt động. Họ dễ phá vỡ các nguyên tắc, dễ bị cô lập và thường gặp các tật chứng khác về nhận thức như: học kém, rối loạn vận động hoặc ngôn ngữ… 1. Khái niệm về đặc điểm lâm sàng Đặc điểm lâm sàng là một khái niệm mang tính y học, trong y học lâm sàng có nghĩa là thăm khám cho bệnh nhân trên giường bệnh, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh nhằm tìm ra các nét riêng biệt, và người bệnh có nhu cầu được cứu chữa hoặc tìm ra một phương pháp trị liệu phù hợp cho chứng bệnh đó. Khi khám chữa lâm sàng thường có 2 ý nghĩa: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trực tiếp quan sát, thăm hỏi, sau này bổ sung với những biện pháp gián tiếp khác là các xét nghiệm cận lâm sàng.
- Tính thực tiễn, buộc phải giải đáp các yêu cầu của bệnh nhân, phải làm gì? (trị liệu như thế nào?), tiến triển ra sao (tiên lượng như thế nào?) Giống như vậy Tâm lý học lâm sàng là tìm cách giải quyết các khó khăn tâm lý. Tâm lý lâm sàng được triển khai theo mô hình: khám- hỏi- trắc nghiệm- chẩn đoán- trị liệu. Đối với các rối loạn tâm thần, các yếu tố liên quan phức tạp hơn nhiều, trắc nghiệm không thể hoàn toàn khách quan và chính xác, nên ít khi dẫn ra được chẩn đoán những biểu bệnh rõ nét để có được các các chỉ định chữa trị một cách rõ nét. Trong Tâm lý học lâm sàng các nhà tâm lý thường dẫn đến xác định vấn đề của thân chủ với các yếu tố liên quan có tác động lẫn nhau để từ đó tìm ra được một chiến lược thích hợp từng bước để có thể xoay chuyển được tình thế, hoàn cảnh, và vấn đề của thân chủ.
Về phương pháp luận, lâm sàng khác với khoa học thực nghiệm.Thực nghiệm xem đối tượng là một khách thể với tính chất hoàn toàn khách quan, quan sát của người nghiên cứu hoàn toàn không tác động đến tính chất của sự vật. Trong lâm sàng, đối tượng là một con người, một chủ thể, chịu ảnh hưởng của người quan sát thăm hỏi mình và tác động trở lại đến thân chủ. Vì thế người quan sát/ đánh giá lâm sàng và thân chủ tác động lẫn nhau. Như vậy đặc điểm lâm sàng của một rối loạn được hiểu là những đặc điểm đặc trưng để có thể đi đến một chẩn đoán cho một rối loạn cụ thể cho thân chủ.
Những đặc điểm này thu thập được thông qua những thăm khám trực tiếp, dựa vào các bảng đánh giá trực tiếp trên thân chủ, các thông tin mà thân chủ, người thân của họ hoặc người chăm sóc họ cung cấp. Bên cạnh đó là các biểu hiện về mặt hành vi, cảm xúc mà thân chủ thể hiện qua quá trình đánh giá, tất cả những 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc điểm thu thập được sẽ đối chiếu và so sánh với tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn là ICD- 10 hoặc DSM- 4. Việc tìm ra và định danh được rối loạn của thân chủ không chỉ có ý nghĩa về mặt chẩn đoán, mà nó còn là phương hướng để thiết lập các phương án chuẩn trị tối ưu cho thân chủ, giúp thân chủ hòa nhập lại với cuộc sống bình thường, giảm bớt các khiếm khuyết mắc phải, nâng cao được chất lượng cuộc sống. Chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý 1.
Nguyên tắc chẩn đoán Trước hết để có thể chẩn đoán được rối loạn tăng hoạt động giảm chú ý chúng ta cân phải nắm bắt rõ được các biểu hiện của rối loạn này. Các đặc trưng cơ bản của rối loạn tăng động giảm chú ý là: kém tập trung, tăng hoạt động và xung động. [40, tr8] Các nét đặc trưng của rối loạn này chính là sự tăng hoạt động và chú ý, cả hai tiêu chuẩn này đều cần thiết cho quá trình chẩn đoán rối loạn này. Nhưng lưu ý là các biểu hiện này phải thể hiện một cách rõ ràng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau (ví dụ: ở nhà, ở trường lớp, bệnh viện, các môi trường xã hội khác…).
[19, tr259] Các triệu chứng của rối loạn này thường diễn ra trong thời gian dài (3- 6 tháng), thông thường thì các biểu hiện về tăng động và xung động xuất hiện và thể hiện rõ nét trước các biểu hiện về giảm chú ý và kém tập trung, nhưng các biểu hiện này lại diễn ra khá mạnh mẽ, rõ nét và gây ảnh hưởng lớn trong những năm tiếp sau. Các biểu hiện về triệu chứng này thường xuất hiện vào các hoàn cảnh khác nhau và chúng phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của mỗi tình huống, vào sự tự kiểm soát của trẻ. Chính vì vậy tất cả những trẻ được xem là có vấn đề như: quá hiếu động, kém tập trung, xung động. mà có ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập và 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các mối quan hệ ở trường cũng như trong gia đình thì chúng ta nên cân nhắc việc đưa trẻ đến nơi thăm khám xem có vấn đề về rối loạn tăng động giảm chú ý không.
Những triệu chứng này thường xuất hiện từ rất sớm, ngay từ những năm đầu đời của đứa trẻ. Vì thực chất nhiều trẻ bình thường cũng có thể có các triệu chứng này nhưng ở mức độ nhẹ, hoặc là hậu quả của những bệnh khác nên việc quan trọng là trẻ cần được đánh giá và phát hiện bởi những chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này nhằm tránh những chẩn đoán không phù hợp.