phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra – đánh giá trong dạy học và quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá trong dạy học theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra – đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá trong đào tạo theo tín chỉ tại Trường Đại học Giáo dục. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá trong dạy học trình độ đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Giáo dục. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước KTĐG là một khâu rất quan trọng trong hoạt động đào tạo của một nhà trường và quản lý hoạt động KTĐG trong dạy học là một vấn đề được rất nhiều nhà giáo dục trên toàn thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm đưa ra những biện pháp quản lý cho từng mô hình đào tạo, giải quyết các vấn đề KTĐG trong giáo dục của mỗi quốc gia. Trong hầu hết các nghiên cứu, khi nói đến KTĐG ta thường gắn liền nó với kết quả học tập của người học từ đó hình thành nên thuật ngữ KTĐG kết quả học tập. Thuật ngữ quản lý hoạt động KTĐG trong dạy học ít được sử dụng, nhưng ngày nay khi hầu hết hệ thống quản lý đào tạo của các nước đã áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ thì sử dụng thuật ngữ này mới mô tả được hết nội hàm của khái niệm KTĐG.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử có rất nhiều quan điểm về KTĐG, một số phát biểu gắn KTĐG với kết quả học tập, một số khác gắn KTĐG với việc dạy học. Để hiểu rõ hơn những nghiên cứu và áp dụng quản lý KTĐG vào giải quyết các vấn đề giáo dục của mỗi quốc gia, ta xem xét một số mô hình quản lý đào tạo tiêu biểu và vai trò của quản lý KTĐG trong mô hình quản lý đào tạo của mỗi trường ĐH Ở các nước có nền GDĐH phát triển như Anh, Mỹ,… a) Mô hình quản lý đào tạo, quản lý hoạt động KTĐG trong GDĐH ở Mỹ Cho tới nay, GDĐH ở Mỹ vẫn được đa số các nhà giáo dục đánh giá là nền GDĐH tốt nhất trên thế giới. Hệ thống GDĐH của Mỹ là hệ thống giáo dục đại chúng được thiết kế để đáp ứng hầu hết nhu cầu của người dân. Mô hình đào tạo thành công và được coi là sáng kiến của hệ thống giáo dục Mỹ đó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ [20].
Một điểm nổi bật trong chương trình đào tạo của các trường đại học ở Mỹ là sự đa dạng, phong phú của các học phần; tạo cơ sở cho SV đa dạng trong lựa chọn trên cơ sở đặt ra yêu cầu tối thiểu, bắt buộc về kiến thức chung và khối lượng kiến thức chuyên ngành. Dù quy mô nào, các trường đại học của Mỹ vẫn tạo điều kiện để SV được lựa chọn học phần, tự xây dựng cho mình một chương trình học vừa phù 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ thì khối lượng kiến thức SV cần tích lũy để hoàn thành CTĐT được đo lường theo một số đơn vị tính khác nhau. Hầu hết các trường dạy theo học kỳ semester bao gồm 15 tuần học và 1 tuần thi ; một số trường dạy theo học kỳ quarter, bao gồm 10 tuần học và 1 tuần thi; Trường Đại học Harvard sử dụng đơn vị đo lường là “half-course”.
Nhìn chung, các trường ở Mỹ đều quy đổi về đơn vị tín chỉ theo học kỳ semester khi cần so sánh; 1 tín chỉ của trường dạy theo quarter bằng 2/3 tín chỉ của trường dạy theo semester ; 1 half-course ở Đại học Harvard tương đương với 4 tín chỉ của trường dạy theo semester. Quản lý hoạt động dạy học trong các trường đại học Mỹ coi trọng tự do học thuật và đề cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của người dạy, người học. Theo quan điểm “tự do học thuật” (academic freedom), nhà trường trao quyền tự quyết cho đội ngũ GV với những quy định mang tính nguyên tắc. GV đảm nhiệm học phần tuân thủ tuyệt đối đề cương chi tiết của học phần để đảm bảo tính nhất quán trong nội dung học phần và chất lượng tương đối đồng đều giữa các bài dạy của các GV ở các lớp học phần.
PPDH luôn được tổ chức theo định hướng nhằm tăng cường tính chủ động, tích cực của SV, rèn luyện cho SV khả năng tự học, tự nghiên cứu. Mỗi học phần đều có một giáo sư, GV chính giàu kinh nghiệm nhất làm điều phối viên. Nhiệm vụ của điều phối viên là trả lời các thắc mắc của giảng viên trong tổ bộ môn; thống nhất quan điểm, nội dung trong từng bài học; nhắc nhở, đôn đốc mọi người thực hiện đúng theo kế hoạch học tập và thi cử. Mỗi GV trực tiếp giảng dạy có một trợ lý giúp việc quản lý lớp, chấm bài tập về nhà, lên điểm.
Họ là những SV giỏi năm trên, học viên thạc sĩ hay nghiên cứu sinh. GV phải có nghĩa vụ bố trí thời gian ở phòng làm việc để giải đáp thắc mắc, trao đổi chuyên môn với SV. Quản lý hoạt động KTĐG trong các trường đại học ở Mỹ trao quyền tự chủ cho GV và coi trọng đánh giá quá trình. Công tác KTĐG chủ yếu phụ thuộc vào các GV; GV thực hiện KTĐG liên tục trong cả quá trình giảng dạy học phần, các hình thức kiểm tra, số lượng bài kiểm tra và tỷ lệ tính điểm quá trình của từng môn học do các GV tự quyết định; GV tự ra đề, coi thi, chấm thi, lên điểm; bài thi không cần rọc phách và phòng thi không cần phải có 2 giám thị.
Bên cạnh các điểm thi giữa kỳ, nhiều GV còn đánh giá và cho điểm các hoạt động khác của SV như chuyên cần, tinh thần xây dựng bài, các đề án phụ, điểm thưởng. Đối với các lớp học đông, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các giáo sư giảng bài còn việc chấm điểm quá trình học thông qua các bài kiểm tra được các trợ giảng thực hiện. Lịch thi được thông báo từ đầu học kỳ; sau khi thi các GV khẩn trương chấm bài, lên điểm để thông báo cho SV. Với cách thức tổ chức KTĐG như vậy, vai trò và trách nhiệm của GV là hết sức quan trọng; SV tuy phải nỗ lực trong suốt quá trình học tập nhưng sẽ đạt kết quả tốt và giảm nhiều áp lực trong kỳ thi cuối kỳ, tránh được tình trạng đối phó trong thi cử; công tác KTĐG đảm bảo cho việc hình thành năng lực cho SV chứ không phải chỉ để kiểm tra kiến thức SV ghi nhớ được.
Ngoài công tác KTĐG các học phần trong hoạt động dạy học ở trường đại học; GDĐH ở Mỹ, tương ứng với phương thức đào tạo theo tín chỉ rất mềm dẻo còn có một mô hình quản lý KTĐG rất linh hoạt khác. Hệ thống tín chỉ cho phép các trường đại học xây dựng CTĐT gồm nhiều module, có những module người học có thể tự tích lũy mà không cần chờ tới thời gian học đại học. KTĐG trong GDĐH ở Mỹ được thực hiện không những ở các trường đại học mà còn ở các trung tâm chuyên về KTĐG. SV có thể rút ngắn thời gian lấy bằng cử nhân hoặc theo học với thời gian dài hơn phù hợp với sự đang dạng về nhu cầu học tập do hệ thống tín chỉ cho phép SV tích lũy tín chỉ một cách rất chủ động.
Để làm được điều này ở Mỹ duy trì một tổ chức có tên là Hiệp hội KTĐG quốc gia (NCTA-National College Testing Association). Hiệp hội này quản lý một mạng lưới các trung tâm KTĐG, hầu hết các trung tâm này thuộc các trường đại học, cao đẳng. Các trung tâm KTĐG chuyên tổ chức các kỳ thi và cấp chứng chỉ cho người học như kỳ thi ACT hoặc SAT (thi tuyển sinh vào đại học), GRE (tuyển sinh sau đại học), LSAT (dành cho những người học thuộc ngành Luật), NBPTS (dành cho những người học thuộc các ngành Sư phạm), CLEP (chương trình thi các học phần đại học đại cương),…,các chứng chỉ này có thể sử dụng để miễn một số học phần trong CTĐT. Trong đó, đặc biệt có CLEP là chương trình của Hiệp hội các trường đại học (College Board) và có sự hỗ trợ về kỹ thuật của công ty ETS (Education Testing Services) [30, 31, 32, 33, 39].
CLEP đem lại cho người học nhiều thuận lợi trong việc tích lũy các tín chỉ của một số học phần có trong CTĐT đại học, tạo cơ hội cho người học hoàn thành CTĐT để nhận bằng tốt nghiệp sớm, tiết kiệm thời gian và chi phí… Đối tượng dự thi CLEP rất đa dạng, đó là tất cả mọi người có nhu cầu, không hạn chế độ tuổi, trình độ. Mô hình thi CLEP của Mỹ chỉ áp dụng với những học phần trong chương 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình giáo dục đại cương, một phần của CTĐT đại học. Nội dung chương trình thi CLEP là chương trình quốc gia bao gồm các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương của hầu hết các lĩnh vực, những học phần được dạy trong 2 năm đầu ở các trường đại học Mỹ. CLEP được Hội đồng giáo dục Mỹ (ACE-American Council on Education) thẩm định và chấp nhận từ năm 1965.
ACE quy định điểm số tối thiểu để nhận được tín chỉ học phần là điểm C. Dựa trên quy định của ACE, từng trường đại học có quy định riêng về số tín chỉ được tích lũy và điểm số cần đạt đối với mỗi môn thi. Hầu hết các trường đại học đều chấp nhận tín chỉ CLEP, nhưng không phải trường nào cũng yêu cầu số tín chỉ và môn thi như nhau. Tham gia vào việc phát triển CLEP có khoảng 600 thành viên là những CBQL, GV của các trường đại học và sự hỗ trợ kỹ thuật của ETS [32].
Mỗi trường đại học, cao đẳng xây dựng chính sách riêng của mình cho kỳ thi CLEP. Chính sách đòi hỏi sự phối hợp của các bộ phận và cá nhân trong trường: bộ phận tư vấn, khoa, bộ phận tiếp nhận đăng ký, trung tâm KTĐG,.