Khảo sát thực trạng nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển ở trẻ em

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued khảo sát thực trạng nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển ở trẻ em chương, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

118
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ CÁC RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN Ở TRẺ EM

1.1. Trên thế giới

1.2. Tại Việt Nam

1.3. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.4. Rối loạn phát triển

1.5. Nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khách thể nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi

2.2.3. Phương pháp thống kê toán học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ CÁC RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN Ở TRẺ EM

3.1. Nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển nói chung

3.2. Nhận thức của cộng đồng về tỷ lệ của rối loạn phát triển

3.3. Nhận thức của cộng đồng về nguyên nhân của rối loạn phát triển

3.4. Nhận thức của cộng đồng về chẩn đoán, can thiệp/điều trị các rối loạn phát triển

3.5. Nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển cụ thể

3.5.1. Nhận thức của cộng đồng về khuyết tật trí tuệ/Rối loạn phát triển trí tuệ

3.5.2. Nhận thức của cộng đồng về rối loạn giao tiếp

3.5.3. Nhận thức của cộng đồng về rối loạn phổ tự kỷ

3.5.4. Nhận thức của cộng đồng về Rối loạn tăng động giảm chú ý

3.5.5. Nhận thức của cộng đồng về rối loạn học tập đặc hiệu

3.5.6. Nhận thức của cộng đồng về rối loạn vận động

3.5.7. Nhận thức của cộng đồng về các RLPT thông qua các trường hợp cụ thể

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối loạn phát triển ở trẻ em và nhận thức cộng đồng

Rối loạn phát triển ở trẻ em là một vấn đề ngày càng được quan tâm trong xã hội hiện đại. Theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần phiên bản 5 (DSM-5), các rối loạn này thường khởi phát sớm và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của trẻ. Nhận thức của cộng đồng về các rối loạn này đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và can thiệp sớm. Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn thiếu thông tin và hiểu biết đúng đắn về các rối loạn phát triển, dẫn đến những quan niệm sai lầm và sự kỳ thị.

1.1. Rối loạn phát triển là gì và các loại rối loạn phổ biến

Rối loạn phát triển bao gồm nhiều loại như rối loạn phát triển trí tuệ, rối loạn giao tiếp, rối loạn phổ tự kỷ, và rối loạn tăng động giảm chú ý. Mỗi loại rối loạn có những đặc điểm riêng và cần được nhận diện đúng cách để có thể can thiệp kịp thời.

1.2. Tầm quan trọng của nhận thức cộng đồng về rối loạn phát triển

Nhận thức của cộng đồng về rối loạn phát triển ảnh hưởng lớn đến việc phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ. Khi cộng đồng có hiểu biết đúng đắn, trẻ em sẽ được hỗ trợ tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng hòa nhập xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong nhận thức cộng đồng về rối loạn phát triển

Mặc dù có nhiều thông tin về rối loạn phát triển, nhưng nhận thức của cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều người vẫn tin vào những quan niệm sai lầm và thiếu thông tin chính xác. Điều này dẫn đến sự kỳ thị và thiếu hỗ trợ cho trẻ em có rối loạn phát triển.

2.1. Những quan niệm sai lầm phổ biến về rối loạn phát triển

Nhiều người vẫn nghĩ rằng rối loạn phát triển là do yếu tố tâm linh hoặc do sự nuôi dạy không đúng cách. Những quan niệm này không chỉ sai lầm mà còn gây ra sự kỳ thị đối với trẻ em và gia đình họ.

2.2. Thiếu thông tin và giáo dục về rối loạn phát triển

Giáo viên và phụ huynh thường thiếu kiến thức về các rối loạn phát triển. Điều này dẫn đến việc không thể phát hiện sớm và can thiệp kịp thời cho trẻ em, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

III. Phương pháp khảo sát nhận thức cộng đồng về rối loạn phát triển

Để đánh giá nhận thức của cộng đồng về rối loạn phát triển, một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tham gia của phụ huynh, giáo viên và sinh viên. Phương pháp khảo sát bao gồm bảng hỏi và phỏng vấn sâu.

3.1. Thiết kế bảng hỏi khảo sát

Bảng hỏi được thiết kế để thu thập thông tin về nhận thức, hiểu biết và thái độ của cộng đồng đối với các rối loạn phát triển. Các câu hỏi được xây dựng dựa trên các khái niệm cơ bản và thông tin hiện có.

3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu được thực hiện với một số đối tượng để hiểu rõ hơn về quan điểm và trải nghiệm của họ liên quan đến rối loạn phát triển. Phương pháp này giúp thu thập thông tin chi tiết và phong phú hơn.

IV. Kết quả khảo sát và nhận thức của cộng đồng về rối loạn phát triển

Kết quả khảo sát cho thấy rằng nhận thức của cộng đồng về rối loạn phát triển còn nhiều hạn chế. Nhiều người chưa hiểu rõ về các triệu chứng và cách can thiệp cho trẻ em có rối loạn phát triển.

4.1. Mức độ hiểu biết về các rối loạn phát triển

Kết quả cho thấy chỉ một phần nhỏ người tham gia có hiểu biết đúng về các rối loạn phát triển. Nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa các loại rối loạn và không biết cách nhận diện triệu chứng.

4.2. Ảnh hưởng của thông tin truyền thông đến nhận thức

Thông tin từ truyền thông đại chúng có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của cộng đồng. Tuy nhiên, nhiều thông tin không chính xác hoặc thiếu khoa học, dẫn đến sự hiểu lầm và kỳ thị.

V. Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về rối loạn phát triển

Để nâng cao nhận thức của cộng đồng về rối loạn phát triển, cần có các chương trình giáo dục và truyền thông hiệu quả. Các giải pháp này sẽ giúp cải thiện hiểu biết và giảm thiểu sự kỳ thị.

5.1. Tổ chức các buổi hội thảo và đào tạo

Các buổi hội thảo và đào tạo cho giáo viên, phụ huynh và cộng đồng sẽ giúp nâng cao hiểu biết về rối loạn phát triển. Đây là cách hiệu quả để truyền tải thông tin chính xác và khoa học.

5.2. Sử dụng truyền thông xã hội để nâng cao nhận thức

Truyền thông xã hội có thể được sử dụng để chia sẻ thông tin và kiến thức về rối loạn phát triển. Các chiến dịch truyền thông có thể giúp thay đổi quan điểm và giảm thiểu sự kỳ thị.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về nhận thức cộng đồng

Nhận thức của cộng đồng về rối loạn phát triển cần được cải thiện để hỗ trợ tốt hơn cho trẻ em. Các giải pháp giáo dục và truyền thông sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết và giảm thiểu sự kỳ thị trong xã hội.

6.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về rối loạn phát triển không chỉ giúp trẻ em được phát hiện và can thiệp sớm mà còn tạo ra một môi trường hỗ trợ cho gia đình và cộng đồng.

6.2. Triển vọng tương lai cho trẻ em có rối loạn phát triển

Với sự cải thiện trong nhận thức cộng đồng, trẻ em có rối loạn phát triển sẽ có nhiều cơ hội hơn để hòa nhập và phát triển trong xã hội. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em và gia đình họ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued khảo sát thực trạng nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển ở trẻ em chương trình đào tạo thí điểm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển ở trẻ em Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển ở trẻ em 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ CÁC RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN 1. Trên thế giới Các rối loạn phát triển Ca rối loạn phát triển (Neurodevelopmental disorders) là một nhóm các rối loạn khởi phát sớm trong quá trình phát triển của trẻ, xảy ra ở tất cả các nhóm chủng tộc, sắc tộc và kinh tế xã hội [52, tr 31 - 33], theo số liệu thống kê của “Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh Hoa kỳ” năm 2015 ước tính số lượng này là khoảng 1/6 hoặc khoảng 15,0% các trẻ trong độ tuổi từ 3 – 17 có một trong các rối loạn phát triển [132]. Theo tác giả Eapen (2014), việc phòng ngừa và các chương trình can thiệp sớm cho trẻ em có nguy cơ về các vấn đề rối loạn phát triển và sức khỏe tâm thần sẽ có khả năng làm thay đổi quá trình phát triển hoặc ngăn chặn sự tiến triển các triệu chứng trên lâm sàng của trẻ [73]. Tại nhiều nước trên thế giới, các rối loạn phát triển đã được xếp vào luật dành cho người khuyết tật.

Nishio và các cộng sự (2015) đã nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh tâm thần, khuyết tật về trí tuệ và khuyết tật phát triển trong số những người vô gia cư ở Nagoya, Nhật Bản: Nghiên cứu hàng loạt trường hợp, nghiên cứu chỉ ra rằng: tỷ lệ mắc bệnh tâm thần và thiểu năng trí tuệ là 61,0% và 39,0%, ở những người vô gia cư ở Nagoya, Nhật Bản [105]. Tilahun và cộng sự (2016), nghiên cứu về sự kỳ thị, mô hình giải thích và nhu cầu chưa được đáp ứng của người chăm sóc trẻ em bị rối loạn phát triển ở Ethiopia cho thấy rằng: Người chăm sóc trẻ em bị ASD ở Ethiopia phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm mức độ kỳ thị cao và thiếu sự cung cấp thích hợp cho con của họ. Sự kỳ thị được báo cáo mạnh mẽ hơn ở những người chăm sóc đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cơ sở truyền thống hoặc đã giải thích siêu nhiên về tình trạng của trẻ. Nghiên cứu có ý nghĩa đối với các chính sách để giảm sự kỳ thị, nâng cao nhận thức về các nguyên nhân của rối loạn phát triển và đáp ứng nhu cầu của người chăm sóc trẻ em khuyết tật phát triển.

Các can thiệp để nâng cao nhận thức về rối loạn phát triển, giảm sự kỳ thị, và cải thiện khả năng tiếp cận với các giáo dục và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hỗ trợ cho người chăm sóc được bảo đảm [125]. Matson và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng: xu hướng nghiên cứu tương lai là các rối loạn tâm thần đồng thời xảy ra ở trẻ khuyết tật trí tuệ và tự kỷ [101]. Rối loạn phát triển trí tuệ/khuyết tật trí tuệ Theo Kiely (2016), can thiệp, điều trị cho trẻ khuyết tật trí tuệ là vấn đề phức tạp đòi hỏi sự hợp tác đa ngành giữa các nhà nghiên cứu, bác sĩ lâm sàng, người ủng hộ, cha mẹ, nhà giáo dục, những người chăm sóc đầu tiên và những người khác [88], Mohamed và cộng sự (2015), can thiệp tập trung vào mối quan hệ giữa cha mẹ với trẻ khuyết tật trí tuệ, có hành vi hủy hoại bản thân. Một nghiên cứu trường hợp lâm sàng ở Nam Phi, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: can thiệp tập trung trên mối quan hệ cha mẹ với trẻ khuyết tật trí tuệ giúp cải thiện về hành vi không mong muốn ở và có tác động tích cực lên chất lượng của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái [103].

Turygin và cộng sự (2014), nghiên cứu về các rối loạn đồng thời xảy ra ở người bị khuyết tật trí tuệ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có khuyết tật trí tuệ có nguy cơ cao hơn về các rối loạn khác so với những người khác trong dân số [126]. Rối loạn giao tiếp Nghiên cứu gần đây về bệnh tâm thần ở trẻ em đã cho thấy tỷ lệ cao về rối loạn ngôn ngữ, ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ em liên quan đến các vấn đề sức khoẻ tâm thần và tinh thần đối với các vấn đề về cảm xúc và hành vi. Ngược lại, trẻ em đến các phòng khám âm ngữ và ngôn ngữ với các rối loạn giao tiếp đã được tìm thấy có tỷ lệ cao các rối loạn tâm thần có thể được chẩn đoán [111].

Nhóm tác giả Prizant và cộng sự (1990) nghiên cứu về rối loạn giao tiếp và hành vi/cảm xúc của trẻ em và vị thành niên. Nghiên cứu đã rà soát lại các nghiên cứu liên quan về rối loạn ngôn ngữ và đã đưa ra kết luận rằng: Trong hai thập kỷ qua, các chuyên gia về trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn ngôn ngữ, lời nói và giao tiếp đã tiến triển từ việc tập trung về rối loạn ngôn ngữ và các cá nhân bị ảnh hưởng đến những suy giảm giao tiếp trong các tình huống rộng hơn về tình huống và gia đình. Sự thay đổi về chuyên môn phản ánh sự gia tăng nhạy cảm với các mối quan hệ phức tạp giữa khả năng nói, ngôn ngữ, giao tiếp, và tình cảm tinh thần. Hơn nữa, việc xem xét các bối cảnh điều trị và ảnh hưởng lẫn nhau giữa người khiếm thị và môi trường xã hội của họ đã mở rộng rất nhiều.

Rất có khả năng là như nghiên cứu tiếp tục ghi nhận 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự phổ biến cao của rối loạn cảm xúc / hành vi ở trẻ em và thanh thiếu niên giao tiếp kém, cũng như mức độ cao tỷ lệ rối loạn giao tiếp ở trẻ em được xác định là có rối loạn cảm xúc / hành vi, các chuyên gia về bệnh lý ngôn ngữ nói sẽ được kêu gọi để đóng một vai trò lớn hơn và phức tạp hơn cả trong việc phục vụ những cá nhân này cũng như tương tác với các chuyên gia về sức khoẻ tâm thần [111]. Mary Watson & Pennington (2015), Đánh giá và quản lý các khó khăn về giao tiếp của trẻ em bị bại não. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: có sự khác biệt rất lớn trong việc đánh giá và quản lý rối loạn giao tiếp của trẻ em và thanh thiếu niên với bại não. Các phương pháp đánh giá hiện nay thiếu nghiêm ngặt và cần có sự đồng thuận về thực tiễn đánh giá trên toàn nước Anh đối với nhóm khách hàng này.

Tiêu chuẩn hoá trong đánh giá sẽ cho phép các tổ chức phát triển một bộ dữ liệu quốc gia, có thể được sử dụng để thông báo chính sách y tế và giáo dục của Vương quốc Anh và thúc đẩy nghiên cứu [100]. Rối loạn phổ tự kỷ Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một trong những vấn đề được quan tâm nhiều trên thế giới, cụ thể đã có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn này được công bố như: Chien và cộng sự (2011) Đài Loan tỷ lệ trẻ tự kỷ là 2,9% [65], Kim và cộng sự (2011) Hàn Quốc cho tỷ lệ 2,64% [90], Parner và cộng sự (2012) Đan Mạch 7,29% [106], Christensen và cộng sự (2016) Mỹ 14,6% [66], DeFilippis và Wagner (2016), chỉ ra rằng các lựa chọn điều trị hiện tại cho các triệu chứng chính của rối loạn phổ tự kỷ được giới hạn trong các liệu pháp tâm lý xã hội, chẳng hạn như phân tích hành vi ứng dụng (ABA). Thuốc có hiệu quả trong điều trị các triệu chứng liên quan đến hành vi của RLPTK. Risperidone và aripiprazole hiện là thuốc duy nhất mà cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận cho các triệu chứng liên quan đến các chứng rối loạn phổ tự kỷ.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ em và thanh thiếu niên bị RLPTK dường như dễ bị tác dụng phụ hơn khi dùng thuốc; do đó, nên bắt đầu với liều lượng thấp và rất chậm [67], Dixon và cộng sự (2017), cho thấy rằng can thiệp cho trẻ được thực hiện ở môi trường trung tâm có hiệu quả cao hơn là can thiệp tại nhà của trẻ RLPTK [68], Linstead và các cộng sự (2017) cho thấy rằng cường độ và thời gian điều trị là những yếu tố dự báo đáng kể cho các mục tiêu can thiệp ở tất cả các lĩnh vực điều 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị bao gồm học tập, thích ứng, nhận thức, hành vi chức năng, ngôn ngữ, động cơ, vui chơi và xã hội [97]. Rối loạn tăng động giảm chú ý Nghiên cứu về tỷ lệ người được chẩn đoán RLTĐGCY đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, một nghiên cứu đa phân tích các công trình nghiên cứu từ Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Phi, Châu Á, Châu Đại Dương và Trung Đông đã cho thấy tỷ lệ người có RLTĐGCY/ RLTĐ gộp chung của toàn thế giới là 5,29% (Polanczyk và cộng sự, 2007) [108]. Một nghiên cứu đa phân tích khác cho thấy ước tính tỷ lệ RLTĐGCY nói chung là 7,2% (Thomas và cộng sự, 2015) [124]. Cập nhật con số thống kê được các nghiên cứu công bố gần đây nhất về tỷ lệ trẻ RLTĐGCY, tại Tây Ban Nha, có 5,4% trẻ từ 3 – 6 tuổi (Canals và cộng sự, 2016) [63], tại Hàn Quốc là 8,5% trẻ 7 – 12 tuổi (Kim và cộng sự, 2016) [89], tại Mỹ, theo một nghiên cứu dựa trên cộng đồng, có 15,5% trẻ học lớp 1 đến 5 bị RLTĐGCY (Rowland và cộng sự, 2015) [114], v.

Các nghiên cứu về triệu chứng của RLTĐGCY cho thấy rằng trẻ em bị rối loạn này thường xuyên thiếu chú ý và thường có xu hướng không hoàn thành những nhiệm vụ có liên quan đến những bạn cùng lớp khác (Abikoff và cộng sự, 2002; Junod và cộng sự, 2006) [51], [87]. Ngoài ra, hành vi xung động - tăng động của trẻ thường dẫn tới những hành vi gây rối trong lớp học và các môi trường học tập khác. Trẻ thường nói chuyện riêng, làm phiền các học sinh khác, làm gián đoạn bài dạy của giáo viên. Hơn nữa, trẻ RLTĐGCY có thể được chẩn đoán mắc chứng rối loạn hành vi thách thức chống đối, học sinh có thể thường không làm theo các yêu cầu của giáo viên và công khai thách thức nội quy của trường học (Barkley, 2006) [55].

Sự kết hợp của hành vi tăng động và hành vi gây rối có thể gây cản trở các hoạt động học tập và lớp học (DuPaul, 2007) [70].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo sát nhận thức cộng đồng về rối loạn phát triển ở trẻ em" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự hiểu biết và nhận thức của cộng đồng về các rối loạn phát triển ở trẻ em. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những thách thức mà trẻ em mắc phải mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức trong xã hội để hỗ trợ tốt hơn cho các em. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức can thiệp và hỗ trợ trẻ em, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn trong gia đình và cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả can thiệp trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 24 tháng đến 72 tháng, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5 6 tuổi thông qua chơi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ em gặp khó khăn. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ năng tư vấn tâm lí của giáo viên giáo dục đặc biệt tại thành phố hồ chí minh sẽ cung cấp cái nhìn về vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ trẻ em có nhu cầu đặc biệt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến rối loạn phát triển ở trẻ em.