Tổng quan nghiên cứu
Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm 8 bậc đã trở thành căn cứ pháp lý then chốt nhằm chuẩn hóa và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, cơ sở đào tạo đại học duy nhất của Bộ Công an trong lĩnh vực này với quy mô 4.132 học viên trong năm 2019, đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa sản phẩm đào tạo theo chuẩn mực quốc gia và khu vực.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết khoảng cách giữa năng lực thực tế của kỹ sư tốt nghiệp ngành An toàn phòng cháy và đòi hỏi khắt khe từ thị trường lao động. Mục tiêu cốt lõi bao gồm việc xây dựng bộ chuẩn đầu ra mới tương thích với bậc 6 của Khung trình độ quốc gia (tương ứng khối lượng 120 đến 180 tín chỉ), đồng thời đo lường mức độ đáp ứng thực tế của sinh viên tốt nghiệp thông qua khảo sát đa chiều. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy và các đơn vị sử dụng lao động trong lực lượng Công an nhân dân cùng các doanh nghiệp liên quan trong giai đoạn 2017 - 2020.
Ý nghĩa của đề tài được khẳng định qua việc cung cấp bộ công cụ đánh giá chuẩn hóa với tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 98,9% (282 trên tổng số 285 phiếu phát ra). Đây là cơ sở thực tiễn giúp các nhà quản lý giáo dục điều chỉnh chương trình đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực vừa vững vàng về bản lĩnh chính trị, vừa tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật an toàn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển hành vi của Pavlov, Watson và Skinner, kết hợp mô hình đánh giá kết quả học tập định hướng năng lực của Ralph Tyler cùng hệ thống lý luận đo lường giáo dục hiện đại của Lê Đức Ngọc (2017). Đề tài tham chiếu trực tiếp Khung trình độ quốc gia Việt Nam (VQF bậc 6), Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF gồm 8 bậc) và tiêu chuẩn kiểm định chất lượng kỹ thuật quốc tế ABET.
Hệ thống khái niệm chính xoay quanh: chuẩn đầu ra, đánh giá giáo dục, mức độ đáp ứng năng lực và khung trình độ. Trên cơ sở đối chiếu văn bản số 2196/BGDĐT-GDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tác giả đề xuất khung chuẩn đầu ra mới gồm 3 tiêu chuẩn, 14 tiêu chí và 39 chỉ báo cụ thể:
- Tiêu chuẩn Kiến thức (5 tiêu chí, 9 chỉ báo): Bao quát kiến thức thực tế vững chắc, lý thuyết chuyên sâu ngành An toàn phòng cháy, khoa học chính trị - pháp luật CAND, kỹ năng lập kế hoạch giám sát và kiến thức công nghệ thông tin.
- Tiêu chuẩn Kỹ năng (6 tiêu chí, 16 chỉ báo): Nhấn mạnh năng lực giải quyết vấn đề phức tạp, thẩm duyệt thiết kế PCCC công trình dân dụng và công nghiệp, điều tra ban đầu vụ cháy, kỹ năng phản biện, dẫn dắt đổi mới và năng lực ngoại ngữ đạt bậc 3/6 Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam.
- Tiêu chuẩn Mức độ tự chủ và trách nhiệm (3 tiêu chí, 14 chỉ báo): Quy định việc chấp hành 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, tính kỷ luật, khả năng làm việc độc lập, năng lực thích ứng với môi trường biến động và tự định hướng chuyên môn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua quy trình 6 bước chặt chẽ. Cỡ mẫu khảo sát gồm 285 đối tượng được phân bổ khoa học: 68 giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục tham gia đánh giá tính cần thiết và khả thi của bộ tiêu chí; 50 sinh viên khảo sát thử nghiệm để chuẩn hóa thang đo; 126 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành An toàn phòng cháy khóa D31 và 41 lãnh đạo đơn vị sử dụng lao động tham gia khảo sát chính thức. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm tối ưu hóa tính đại diện.
Dữ liệu được làm sạch (thu được 282 phiếu đạt chuẩn) và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0. Các kỹ thuật phân tích bao gồm: kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (loại bỏ các biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; giữ lại thang đo có Alpha lớn hơn 0,7), phân tích nhân tố khám phá EFA với kiểm định KMO để xác định tính hợp lệ của cấu trúc thang đo, và thống kê mô tả (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm). Bên cạnh đó, tác giả thực hiện 5 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các giảng viên giàu kinh nghiệm tại Khoa Phòng cháy nhằm làm sâu sắc thêm các nhận định định lượng. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ năm 2017 đến năm 2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, về tính cần thiết và khả thi của bộ chuẩn đầu ra đề xuất, kết quả khảo sát 65 chuyên gia và giảng viên cho thấy 100% (9/9) chỉ báo kiến thức được đánh giá ở mức Cần thiết và Rất cần thiết với điểm trung bình dao động từ 1,80 đến 2,50 trên thang đo 3 mức độ. Chỉ báo Kt1c (năng lực phân tích, tổng hợp đưa ra giải pháp PCCC) đạt điểm cao nhất 2,50. Tuy nhiên, chỉ báo Kt3a (lập kế hoạch, tổ chức và giám sát quy trình kiểm tra PCCC) có điểm khả thi thấp nhất là 1,61 do cấu trúc câu hỏi bị gộp nhiều hành vi phức tạp, đòi hỏi phải tách nhỏ tiêu chí.
Thứ hai, kết quả khảo sát 126 sinh viên tốt nghiệp phản ánh mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra khá tích cực. Tiêu chuẩn Mức độ tự chủ và trách nhiệm đạt tỷ lệ đánh giá cao nhất với 88% sinh viên đạt mức "Tốt" và "Rất tốt", đặc biệt là phẩm chất trung thành, chấp hành điều lệnh CAND và tinh thần trách nhiệm (điểm trung bình đạt trên 4,20/5,00). Ngược lại, tiêu chuẩn Kỹ năng bộc lộ sự phân hóa: kỹ năng chuyên sâu về thẩm duyệt thiết kế PCCC công trình (Kn1c) và kỹ năng điều tra ban đầu vụ cháy (Kn1b) chỉ đạt mức trung bình khá với điểm số xấp xỉ 3,65 trên thang Likert 5 mức độ.
Thứ ba, khảo sát từ 41 đơn vị sử dụng lao động cho thấy mức độ hài lòng chung đạt trên 82%. Các đơn vị đánh giá rất cao ý thức tổ chức kỷ luật và nền tảng lý thuyết của kỹ sư tốt nghiệp. Dẫu vậy, có khoảng 35% đơn vị phản ánh rằng kỹ năng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin chuyên ngành, kỹ năng ngoại ngữ bậc 3/6 và năng lực xử lý các tình huống cháy nổ phức tạp trong môi trường biến đổi của sinh viên mới ra trường vẫn còn bộc lộ hạn chế nhất định.
Thảo luận kết quả
Khi mô tả dữ liệu thông qua biểu đồ phân phối điểm trung bình và bảng ma trận tương quan giữa tự đánh giá của sinh viên với đánh giá của đơn vị sử dụng lao động, sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê xuất hiện rõ nét ở nhóm kỹ năng mềm và kỹ năng quản lý điều hành. Điểm mạnh vượt trội về phẩm chất chính trị và tính tự chủ (đạt trên 88%) xuất phát từ môi trường rèn luyện kỷ luật vũ trang nghiêm ngặt tại Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy.
Tuy nhiên, những hạn chế về kỹ năng thực hành và thích ứng thị trường lao động hoàn toàn trùng khớp với phát hiện của Pitan Oluyomi (2012), khi nghiên cứu này chỉ ra 60,6% sự thiếu hụt kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp tập trung vào tư duy phản biện, công nghệ thông tin và ra quyết định. Kết quả cũng tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Hoài và cộng sự (2018), khi chỉ có 38,1% chương trình đào tạo đại học chú trọng đến kỹ năng dẫn dắt và khởi nghiệp. Điều này chỉ ra rằng chương trình đào tạo của nhà trường trong thời gian qua còn nặng về lý thuyết hàn lâm, thời lượng thực hành xử lý sự cố thực tế tại hiện trường chưa tương xứng với yêu cầu công tác trong thời kỳ mới.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của kỹ sư An toàn phòng cháy theo tiếp cận Khung trình độ quốc gia trong giai đoạn 2021 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Rà soát, tái cấu trúc chương trình đào tạo (120 - 180 tín chỉ): Ban Giám hiệu cùng Phòng Quản lý đào tạo chủ trì cắt giảm 15% khối lượng lý thuyết hàn lâm, tích hợp thêm các học phần chuyên sâu về thẩm duyệt công trình thông minh, kiểm tra an toàn hóa chất nguy hiểm và kỹ năng số; hoàn thành phê duyệt khung chương trình mới trước quý 4 năm 2021.
- Tăng cường thời lượng huấn luyện thực hành và ứng dụng công nghệ: Khoa Phòng cháy cùng các bộ môn chuyên ngành nâng tỷ lệ thời lượng thực hành, mô phỏng trên phần mềm chuyên dụng và diễn tập hiện trường lên tối thiểu 40% tổng thời lượng học phần; đầu tư nâng cấp hệ thống phòng thí nghiệm kiểm định phương tiện PCCC đạt chuẩn trước năm 2023.
- Chuẩn hóa và nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học: Phòng Quản lý đào tạo phối hợp Bộ môn Ngoại ngữ thiết lập lộ trình bảo đảm 100% sinh viên tốt nghiệp đạt chứng chỉ ngoại ngữ bậc 3/6 (tương đương B1 theo VSTEP) và chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin chuyên ngành, triển khai đồng bộ từ khóa tuyển sinh năm 2021.
- Xây dựng mô hình gắn kết ba bên (Nhà trường - Đơn vị Cảnh sát PCCC địa phương - Doanh nghiệp): Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế thiết lập mạng lưới đưa sinh viên đi thực tế nghiệp vụ định kỳ 6 tháng một lần, bảo đảm 100% sinh viên năm cuối được tham gia xử lý hồ sơ thẩm duyệt và tiếp cận các vụ cháy nổ thực tế trước năm 2024.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Ban Giám hiệu và các nhà quản lý giáo dục khối trường Công an nhân dân: Sử dụng khung 3 tiêu chuẩn và 39 chỉ báo làm tài liệu tham khảo chính thống để chuẩn hóa chương trình đào tạo đại học theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam bậc 6, phục vụ công tác kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục.
- Giảng viên chuyên ngành Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ: Ứng dụng kết quả nghiên cứu để cải tiến đề cương chi tiết môn học, đổi mới phương pháp giảng dạy tích hợp tình huống thực tế và xây dựng ngân hàng đề thi đánh giá sát với chuẩn đầu ra năng lực.
- Sinh viên và kỹ sư chuyên ngành An toàn phòng cháy: Tham khảo để tự đối chiếu, đánh giá mức độ tích lũy kiến thức, kỹ năng và thái độ của bản thân; từ đó chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ bậc 3/6, kỹ năng tin học và nghiệp vụ chuyên sâu nhằm đáp ứng ngay yêu cầu công tác.
- Chuyên viên khảo thí và nhà nghiên cứu đo lường giáo dục: Khai thác bộ phiếu khảo sát chuẩn hóa, quy trình kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA làm tài liệu mẫu cho các nghiên cứu đánh giá chuẩn đầu ra trong khối ngành kỹ thuật nghiệp vụ.
Câu hỏi thường gặp
Khung trình độ quốc gia Việt Nam bậc 6 quy định những yêu cầu cốt lõi nào đối với kỹ sư ngành An toàn phòng cháy?
Bậc 6 quy định kỹ sư phải hoàn thành khối lượng 120 đến 180 tín chỉ, sở hữu kiến thức thực tế vững chắc và lý thuyết chuyên sâu, có kỹ năng phản biện giải quyết vấn đề phức tạp, năng lực ngoại ngữ bậc 3/6 và khả năng tự chủ, dẫn dắt chuyên môn trong điều kiện làm việc thay đổi.
Vì sao chỉ báo Kt3a về lập kế hoạch và giám sát kiểm tra PCCC có điểm khả thi thấp ở mức 1,61 trên thang điểm 3?
Chỉ báo Kt3a có điểm khả thi thấp do nội dung câu hỏi bị gộp nhiều hành vi phức tạp (lập kế hoạch, tổ chức, giám sát) trong cùng một tiêu chí. Điều này gây khó khăn cho việc đo lường chính xác, đòi hỏi phải tách thành các chỉ báo đơn lẻ để sinh viên và giảng viên dễ đánh giá.
Sự khác biệt lớn nhất giữa chuẩn đầu ra đề xuất so với chuẩn đầu ra năm 2015 của Trường Đại học PCCC là gì?
Chuẩn đầu ra đề xuất bổ sung các cấu phần hiện đại của VQF bậc 6 mà chuẩn năm 2015 chưa có, gồm: ứng dụng công nghệ thông tin trong PCCC, kỹ năng dẫn dắt khởi nghiệp, năng lực bảo vệ quan điểm chuyên môn độc lập và kỹ năng điều phối, quản lý các nguồn lực.
Cỡ mẫu khảo sát 126 sinh viên và 41 đơn vị sử dụng lao động có bảo đảm độ tin cậy khoa học không?
Cỡ mẫu hoàn toàn bảo đảm độ tin cậy. Tổng mẫu 282 phiếu sau xử lý tinh đã trải qua kiểm định Cronbach's Alpha với hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3 và phân tích nhân tố EFA đạt chuẩn KMO, phản ánh trung thực ý kiến của toàn bộ sinh viên tốt nghiệp khóa D31 và các đơn vị thực tế.
Nhà trường cần làm gì để cải thiện tỷ lệ 35% đơn vị sử dụng lao động chưa hài lòng về kỹ năng mềm của sinh viên?
Nhà trường cần tăng thời lượng thực hành lên mức tối thiểu 40%, đưa các học phần kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ, kỹ năng giải quyết tình huống áp lực cao và ngoại ngữ bậc 3/6 vào giảng dạy bắt buộc, kết hợp thực tập định kỳ 6 tháng một lần tại các địa phương.
Kết luận
- Xây dựng thành công bộ chuẩn đầu ra chuyên ngành An toàn phòng cháy gồm 3 tiêu chuẩn, 14 tiêu chí và 39 chỉ báo tương thích hoàn toàn với bậc 6 Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
- Khảo sát thực chứng trên 282 mẫu hợp lệ (tỷ lệ 98,9%), khẳng định tính cần thiết và khả thi của bộ tiêu chí với điểm trung bình đạt từ 1,80 đến 2,50 trên thang điểm 3.
- Xác định sinh viên đạt mức độ tự chủ và trách nhiệm cao (trên 88%), song còn khoảng trống về kỹ năng thực hành chuyên sâu, công nghệ thông tin và ngoại ngữ (khoảng 35% đơn vị sử dụng lao động yêu cầu nâng cao).
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về đổi mới chương trình (120 - 180 tín chỉ), nâng tỷ lệ thực hành lên trên 40% và gắn kết ba bên trong lộ trình từ năm 2021 đến năm 2025.
- Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy và hệ thống các trường Công an nhân dân trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia thời kỳ hội nhập. Các cơ sở giáo dục và nhà nghiên cứu nên tham khảo, áp dụng ngay mô hình này để chuẩn hóa chương trình đào tạo đại học.