Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 1. Lý luận chung về quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnh phúc của mọi người.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, cộng đồng quốc tế và các lực lượng tiến bộ đã cùng nhau ký kết Hiến chương thành lập nên Liên hợp quốc với mục đích thực hiện sự hợp tác quốc tế… trong sự phát triển và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người. Quyền con người đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia. Quyền con người là khái niệm chính trị - pháp lý rất quan trọng không chỉ trong luật quốc gia mà còn trong luật quốc tế. Có rất nhiều định nghĩa về quyền con người ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia.
Mỗi định nghĩa nghiên cứu quyền con người ở một góc độ nhất định. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa quyền con người của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. [38,1] Về mặt pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế.
Những đặc tính quan trọng nhất của quyền con người được tất cả các văn kiện của Liên hợp quốc công nhận gồm: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một là, quyền con người là bất khả xâm phạm không thể phân chia, liên quan với nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Tính không thể phân chia của nhân nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người. Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con người đều cần phải được chú ý và quan tâm ở mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh.
Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó. Ví dụ trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế. Còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải là quyền về lương thực, thực phẩm. Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôn trọng quyền của tất cả các nhóm khác.
Tính liên quan với nhau và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc đảm bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc đảm bảo các quyền khác. Thực tế cho thấy để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền chính trị cơ bản) thì cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế… vì nếu không thì các quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật, hay mù chữ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tương tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều gắn liền với sự phát triển của các quyền dân sự, chính trị.
Bởi lẽ kết quả của việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội… Hai là, quyền con người có tính phổ quát tức là phải được thực hiện trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử với tất cả mọi người vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Ba là, quyền con người được thực hiện trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của mỗi con người. Nhà nước có trách nhiệm hàng đầu trong việc thúc đẩy và thực hiện quyền con người. Vì sao phải nghiên cứu nội dung quyền con người:việc nghiên cứu quyền con người là nhiệm vụ vô cùng quan trọng bởi lẽ con người là tế bào xã hội, là chủ nhân của nhân loại.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quyền con người là nền tảng để phát triển đầy đủ nhân cách năng lực của mình và cũng là nền tảng của sự phát triển và tiến bộ xã hội… Hiện nay, quyền con người đã trở thành vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận thế giới, một nhân tố không kém phần quan trọng trong các chương trình nghị sự và văn kiện của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực, cũng như các hiệp định song phương và đa phương. Lịch sử phát triển của tư tưởng về quyền con người - Các thế hệ quyền con người Quyền con người là một trong những thành tựu và động lực và động lực phát triển của xã hội loài người. Cuộc đấu tranh vì quyền con người đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử đầy máu và nước mắt ở khắp nơi trên thế giới. Lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của loài người xét cho cùng là cuộc đấu tranh vì quyền con người.
Vì thế, quyền con người là một phạm trù lịch 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử và sự hình thành, phát triển của nó gắn liền với quá trình phát triển đầy biến động của lịch sử loài người. Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội của loài người, nội dung quyền con người tiếp tục phát triển. Cùng với sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc tế về quyền con người, nhận thức về quyền con người trên toàn thế giới đã không ngừng được tăng lên trong nhiều thập kỷ qua. Trong lý luận về quyền con người hiện đại, khái niệm “Thế hệ quyền con người” được thừa nhận với ý nghĩa khái quát những nội dung và đặc trưng cơ bản của quyền con người ở tất cả các lĩnh vực, trong điều kiện tồn tại khác nhau của sử phát triển xã hội và quyền con người.
[9,41] Căn cứ vào quá trình hình thành và phát triển chế các quy định của luật quyền con người trong thực tiễn quan hệ quốc tế và pháp luật quốc tế, có thể phân chia thành các thế hệ quyền con người như sau: Thế hệ quyền con người thứ nhất: Thế hệ quyền con người thứ nhất gắn với cách mạng tư sản ở Châu Âu thế kỷ XVII - XVIII, Thời kỳ này được tính từ khi có cuộc Cách mạng dân quyền tư sản Pháp vào năm 1789. Thế hệ quyền con người thứ nhất là sự khẳng định mạnh mẽ các quyền dân sự, chính trị như quyền sống, quyền tự do, quyền được xét xử công bằng trước pháp luật. Các quyền này gắn liền với tự do cá nhân. Mục đích của thế hệ quyền này về cơ bản là hạn chế sự lạm quyền và sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức và cơ quan Nhà nước qua đó xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc thừa nhận, tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền của con người.
Quyền con người ở thế hệ thứ nhất được ghi nhận ở các văn bản pháp luật quốc gia như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp 1796 và các văn kiện pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và Công ước quốc tế về các quyền con người phổ cập, khu vực, song phương, đa phương. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế hệ quyền con người thứ hai: Thế hệ quyền con người thứ hai gắn liền với cuộc cách mạng tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới thứ II. Thế hệ quyền này được tính từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Quyền con người thế hệ thứ hai là thời kỳ phát triển của nhân dân thế giới đấu tranh cho các quyền kinh tế - xã hội của cá nhân, các quyền dân tộc cơ bản, quyền dân tộc tự quyết.
Quyền con người ở thế hệ thứ hai được ghi nhận rõ nét ở Công ước về quyền dân sự, chính trị 1966 và công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966. Thế hệ quyền con người thứ ba: xác định trách nhiệm của các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực quyền con người về những nghĩa vụ có hiệu quả các vấn đề quyền con người trong thời đại toàn cầu và khoa học công nghệ như: quyền được sống trong hòa bình, quyền được phát triển, được thông tin… vì sự tồn tại của con người trong cộng đồng nhân loại, chống sự hủy diệt của chiến tranh hạt nhân, của xung đột và bạo lực, của độc quyền thông tin, của nghèo đói, suy thoái, của suy thoái môi trường… Thời kỳ này được tính từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Khái niệm pháp luật quốc tế về quyền con người Kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, với sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc, Hiến chương liên hợp quốc đã thể chế hóa việc bảo vệ quyền con người thành một nghĩa vụ quốc tế của các quốc gia, xây dựng một hệ thống các thiết chế để thực thi, bảo vệ quyền con người một cách đầy đủ và hệ thống. Luật quốc tế về quyền con người được hiểu là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong việc bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.