Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền dân sự theo loại việc của tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền dân sự theo loại việc của tòa án về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền dân sự theo loại việc của tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI. Trong bộ máy nhà nước mỗi cơ quan đều thực hiện các chức năng khác nhau. Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Vì thế nhà nước trao cho các cơ quan này những thẩm quyền riêng và có sự phân định rõ ràng về thẩm quyền của chúng.
Tòa án với chức năng xét xử không phải là ngoại lệ. Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp, yêu cầu trong đó có tranh chấp kinh doanh, thương mại. Việc quy định hợp lý về thẩm quyền dân sự của Tòa án nói chung và thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiện được quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để có thể hiểu rõ khái niệm về thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thì chúng ta cần làm rõ các khái niệm đó là: Khái niệm thẩm quyền; Khái niệm thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án và khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Hiểu một cách chung nhất thì “Thẩm quyền là quyền xem xét để quyết định và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” [32; tr 922]. Dưới góc độ pháp lý thì thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do pháp luật quyết định. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể nhận định rằng, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì “thẩm quyền” luôn bao hàm hai nội dung cơ bản đó là: Quyền xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định”. Trên cơ sở quy định này của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 đã quy định cụ thể là Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Tòa án có quyền ban hành bản án và các quyết định, được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước thông qua hệ thống cơ quan thi hành án dân sự. Do đó, thẩm quyền của Tòa án là khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép.
Trong khoa học pháp lý, vấn đề thẩm quyền của Tòa án đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng có nhiều quan niệm khác nhau về “thẩm quyền của Tòa án”. Có quan điểm cho rằng: “Thẩm quyền là phạm vi giới hạn hoạt động của tòa án và khả năng pháp lý của tòa án có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền của tòa án bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi – giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của tòa án” [8;tr 8]. Quan điểm khác cho rằng: “Thẩm quyền của tòa án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.
Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn xem xét của tòa án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử) còn thẩm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của tòa án đối với những vấn đề đã được xem xét” [9;tr 11]. Theo quan niệm này, “thẩm quyền của Tòa án” bao hàm hai yếu tố cơ bản đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung có mối liên hệ mật thiết với nhau. Hay nói một cách khác đó là quyền hạn, phạm vi xem xét của Tòa án và quyền quyết định của Tòa án luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất với nhau. Như vậy, dù cách tiếp cận “Thẩm quyền của tòa án” khác nhau nhưng các khái niệm này giống nhau ở những điểm cho rằng “thẩm quyền của tòa án là thẩm quyền trong việc xét xử, giới hạn của việc xét xử và quyền ra quyết định trong việc xét xử đó”.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài tác giả chỉ xem xét thẩm quyền dưới góc độ quyền xem xét giải quyết các vụ việc về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong phạm vi pháp luật cho phép. Thẩm quyền dân sự theo loại việc của tòa án là một trong các thẩm quyền dân sự của tòa án. Trên thế giới đa số các quốc gia kể cả các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ hay các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đều tiếp cận khái niệm thẩm quyền dân sự của tòa án dưới hai góc độ: Thẩm quyền theo loại việc (căn cứ vào bản chất của vụ việc) và thẩm quyền theo phạm vi lãnh thổ. Tuy nhiên theo đặc thù trong việc tổ chức hệ thống tòa án mà tại Việt Nam thẩm quyền dân sự của tòa án còn được tiếp cận dưới góc độ là thẩm quyền theo cấp của tòa án trong việc xét xử sơ thẩm.
Để xác định một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của một Tòa án cụ thể nào, đầu tiên, người ta phải xác định vụ việc đó có thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việc hay không, sau đó căn cứ vào luật thực định để xác định vụ việc đó thuộc thẩm quyền sở thẩm của Tòa án cấp nào và bước cuối cùng là xác định trong số các Tòa án cùng cấp đó thì Tòa án lãnh thổ nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Do đó, việc xác định thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án là nền tảng hay tiền đề quan trọng để xác 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyết các vụ việc dân sự. Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu của bản luận văn thì thẩm quyền dân sự theo loại việc của toà án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo Điều 1 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Điều 1 BLTTDS thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án và các việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, hệ thống Tòa án của Việt Nam được tổ chức theo các cấp, theo địa giới hành chính, ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao lại có những Tòa chuyên trách để xem xét giải quyết các vụ việc thuộc các lĩnh vực cụ thể. Việc nghiên cứu cho thấy, thẩm quyền dân sự của Tòa án theo loại việc được xác định trên cơ sở các quan hệ pháp luật nội dung có cùng tính chất mà Tòa án phải xem xét giải quyết. Về nguyên tắc, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp khác nhau, trong đó có tranh chấp kinh doanh, thương mại. Vậy tranh chấp kinh doanh, thương mại là gì? Vấn đề này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nội hàm của thuật ngữ, theo đó có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ này.
Tranh chấp kinh doanh, thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật. Thuật ngữ “Tranh chấp kinh doanh, thương mại” là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004. Trước khi thuật ngữ tranh chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện, thực tiễn giải quyết tranh chấp phân chia thành tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự hàng ngày bao gồm các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được coi là tranh chấp dân sự và điểu chỉnh bởi Bộ luật dân sự 1995. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động mua bán trái phiếu, cổ phiếu được coi là các tranh chấp kinh tế, được điều chỉnh chủ yếu bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Ngay từ năm 1994, hệ thống pháp luật Việt Nam về thương mại cũng đã đưa ra một số khái niệm khác nhau để biểu đạt loại tranh chấp này. Tuy không xây dựng được một khái niệm chuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng cũng đã liệt kê được các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án kinh tế và trọng tài kinh tế.
Đến năm 1999, khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập đến trong Luật thương mại ngày 10/5/1999.