Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG 1. Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố. Khái niệm quyền công tố Trong tiếng Anh “ Prosecute” (công tố) được hiểu là việc tiến hành cáo buộc một người trước toà trong một quy trình tố tụng hình sự. Trong tiếng Nga, khái niệm công tố cũng bao gồm hai từ hợp thành: “ợ ỏ õ ố ở ồ ớ ố ồ “ ( tố ) và “ ó ợ ủ ú ọ à ð ủ ũ õ ồ ớ ớ ợ ồ“ ( công ).
Trong đó “ợ ỏ õ ố ở ồ ớ ố ồ “ ( tố ) được hiểu là “ nội dung buộc tội nêu trong quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra, cáo trạng và bản án buộc tội. Khi ghép từ “ợ ỏ õ ố ở ồ ớ ố ồ„ (tố) với từ “ó ợ ủ ú ọ à ð ủ ũ õ ồ ớ ớ ợ ồ“ (công), thì công tố (ó ợ ủ ú ọ à ð ủ ũ õ ồ ớ ớ ợ ồ ợ ỏ õ ố ở ồ ớ ố ồ ) được hiểu là sự buộc tội của nhà nước đối với người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thuật ngữ “ công tố “ là một thuật ngữ Hán- Việt, theo Đào Duy Anh, có nghĩa là “ thay mặt quốc gia để buộc tội trước toà. Trong một cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam, công tố cũng được định nghĩa là “ sự truy tố của nhà nước đối với một kẻ có tội.” Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ tiếng Việt, công tố cũng được hiểu là việc nhân danh nhà nước để buộc tội một người bị tình nghi là phạm tội.
Đa số các nước trên thế giới hiện nay hiểu công tố là việc cáo buộc một người bị tình nghi là tội phạm ra trước toà. Đây là ý nghĩa cốt lõi nhất của công tố. Với một khái niệm công tố được hiểu như vậy thì có thể hiểu quyền 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công tố là quyền nhân danh nhà nước để cáo buộc một người bị tình nghi là tội phạm ra trước toà. Tuy nhiên, do đặc thù của việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam, khái niệm quyền công tố trong khung cảnh của nước ta có những khó khăn trong việc giải thích.
Xung quanh khái niệm quyền công tố ở Việt Nam đã có rất nhiều quan niệm khác nhau. Chúng tôi dựa trên nền tảng của Hiến pháp đã được sửa đổi và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện hành để chỉ ra bản chất của quyền công tố ở Việt Nam. Theo chúng tôi, quyền công tố ở Việt Nam có những dấu hiệu đặc trưng sau đây: Thứ nhất, quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực công và lợi ích công. Quyền cống tố được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của công quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Với tính chất là một quyền nhân danh quyền lực công, quyền công tố đồng thời cũng là quyền nhân danh lợi ích công. Nhưng không phải mọi hoạt động nhân danh lợi ích công đều là quyền công tố. Thứ hai, quyền công tố là một quyền hiến định được trao cho một cơ quan độc lập trong hệ thống bộ máy nhà nước thực hiện. Theo hiến pháp Việt Nam, hệ thống quyền lực được phân bố thành bốn hình thái cơ bản là: lập pháp, hành pháp, xét xử, và kiểm sát.
Quyền công tố ở Việt Nam không giống như ở các nước khác thuộc cấu trúc của ngành hành pháp mà thuộc một hệ thống cơ quan độc lập là Viện kiểm sát. Có quan điểm cho rằng quyền công tố là “quyền của một cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền. Chúng tôi không đồng ý với quan điểm nay. Quyền công tố ở Việt Nam không phải là quyền được được nhà nước uỷ quyền mà cũng như quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền xét xử, quyền công tố được thiết lập từ quyền lập hiến mà chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân.
Do đó quyền công tố là quyền hiến định chứ không phải là quyền được nhà nước uỷ quyền. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, theo Hiến pháp và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, quyền công tố là một loại quyền độc lập. Do đặc thù của việc tổ chức quyền công tố ở Việt Nam, trước đây khái niệm công tố đã được đồng nhất với quyền kiểm sát chung của Viện kiểm sát. Có thể thấy rõ là quan điểm này đã xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền Công tố.
Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều làthực hành quyền Công tố. Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan Nhà nước sửa chữa những phạm vi pháp luật của mình trên lĩnh vực hành chính kinh tế, xã hội (một thời chúng ta gọi là kiểm sát chung) cũng là thực hành quyền Công tố. Và bởi vậy, có nhiều nước gọi Viện kiểm sát là Viện Công tố. Theo quan điểm này, Công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Có thể nói đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành Kiểm sát từ trước tới nay. Đi sâu nghiên cứu những lập luận của những người theo quan điểm này cho thấy rõ là cơ sở cho những lập luận của họ chủ yếu là nội dung các điều luật được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và 1992, đặc biệt là Điều 3 (đúng ra thì phải tính cả các Điều 137 và 138 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 của Nhà nước ta và nhiều điều trong Bộ luật tố tụng hình sự). Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền Công tố bằng 6 công tác. Đó là Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội; Công tác kiểm sát điều tra xét xử; Công tác kiểm sát giam giữ và cải tạo; Công tác kiểm sát thi hành án và Công tác điều tra tội phạm.
Mặt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác, theo quan điểm này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tố tụng hình sự học Liên Xô trước đây. Việc Hiến pháp 1992 đã bỏ đi chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhưng chức năng công tố vẫn còn cho thấy rằng quan điểm đồng nhất quyền công tố với quyền kiểm sát chung là không có cơ sở. Chức năng trọng yếu của Viện kiểm sát là công tố nên không thể quan niệm quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Hiện nay Viện kiểm sát chỉ có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Việc Hiến pháp đặt quyền công tố trước kiểm sát hoạt động tư pháp, mặc dù về mặt văn phong pháp lý, cũng nói lên tính chất chủ yếu của quyền công tố, và công tố không thể là một bộ phận của kiểm sát hoạt động tư pháp. Với khung cảnh hiến định và pháp định hiện nay, công tố không phải là một bộ phận của kiểm sát việc tuân theo pháp luật, mà ngược lại hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật chỉ là một hoạt động bổ trợ của quyền công tố. Xét về mặt thực chất, mọi hoạt động kiểm sát tư pháp đều có ý nghĩa phục vụ cho việc thực hành quyền công tố. Thứ tư, quyền công tố chỉ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Có quan điểm cho rằng công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, vi phạm Luật dân sự, Luật kinh tế và Luật hình sự. Và, quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó. Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc Nhà nước. Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau.
Với tính cách là một quyền năng của Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm tố tụng hình sự, tố tụng dân 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính. Sự tồn tại quyền công tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan bởi thứ nhất, Nhà nước không thể không thể hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật; và thứ hai, sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán. Theo quan điểm trên, quyền công tố được biểu hiện cụ thể ở các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ án (dân sự, hành chính, hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng từ bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế.), quyền yêu cầu Toà án hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án. Quyền công tố trong các hoạt động tố tụng khác nhau thì không giống nhau về nội dung cũng như hình thức thực hiện.
Trong tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố có nghĩa là Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với một người phạm tội cụ thể, còn trong các hoạt động tố tụng khác, thực hành quyền công tố được hiểu là việc Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp (bằng văn bản) quy lỗi cho một người hay một pháp nhân nào đó trong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp luật tương ứng. Như vậy, sự buộc tội chỉ là một trong những nội dung của công tố bởi công tố ngoài buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho người khác. Thực ra một số quan niệm trước đây coi quyền công tố mở rộng đến lĩnh vực này là khi Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát chung.