phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn có các chƣơng sau: - Chƣơng 1: Quản trị công ty và vấn đề về thành viên Hội đồng quản trị độc lập. - Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về thành viên Hội đồng quản trị độc ở Việt Nam hiện nay. - Chƣơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến của thành viên Hội đồng quản trị độc lập. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ VẤN ĐỀ VỀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP 1.1 Quản trị công ty và sự cần thiết của thành viên Hội đồng quản trị độc lập 1.1 Khái niệm về quản trị công ty và mô hình quản trị công ty trên thế giới Trong mấy thập kỷ gần đây, một thuật ngữ đƣợc giới doanh nhân biết đến nhƣ một hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột trong doanh nghiệp đƣợc gọi là “Corporate Governance” – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ƣơng dịch thành “Quản trị công ty”.
“Quản trị công ty” liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác. Hiện nay, “quản trị công ty” đang thu hút sự chú ý của đông đảo quần chúng vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của doanh nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “quản trị công ty là một hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty như Hội đồng quản trị, cổ đông và những chủ thể khác có liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh.
Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện mục tiêu đó” [27]. Nhƣ vậy, quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, đƣợc xác định bởi các cơ cấu và các quá trình: Đó là mối quan hệ giữa các cổ đông và Ban 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giám đốc bao gồm việc các cổ đông cung cấp vốn cho Ban giám đốc để thu đƣợc lợi suất mong muốn từ khoản đầu tƣ (cổ phần) của mình. Về phần mình, Ban giám đốc có trách nhiệm cung cấp cho các cổ đông các báo cáo tài chính và các báo cáo hoạt động thƣờng kỳ một cách minh bạch. Các cổ đông cũng bầu ra một thể chế giám sát, thƣờng đƣợc gọi là Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát để đại diện cho quyền lợi của mình.
Trách nhiệm chính của thể chế này là đƣa ra định hƣớng chiến lƣợc cho Ban giám đốc và giám sát họ. Ban giám đốc chịu trách nhiệm trƣớc thể chế này, và thể chế này lại chịu trách nhiệm trƣớc các cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông. Các cơ cấu và các quy trình xác định những mối quan hệ này thƣờng xoay quanh các cơ chế quản lý năng lực hoạt động và các cơ chế báo cáo khác nhau. Dựa vào cơ cấu quản trị nội bộ, trên thế giới tồn tại cơ bản hai mô hình Hội đồng quản trị (“HĐQT”) khác nhau: HĐQT một tầng hay hội đồng quản trị đơn (one-tier board model) và HĐQT hai tầng hay hội đồng quản trị kép (two-tier board model).
(i) Hội đồng quản trị một tầng: Đặc trƣng của HĐQT đơn cấp là một hội đồng bao gồm các thành viên điều hành và không điều hành. Trong cơ cấu này, bộ phận giám sát thƣờng đƣợc gọi là HĐQT. Cơ cấu quản trị này có thể tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng những cơ cấu lãnh đạo vững mạnh và nâng cao hiệu quả của quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, các thành viên HĐQT điều hành và không điều hành đóng một vai trò thiết yếu trong việc giám sát các thành viên của Ban giám đốc điều hành và giảm thiểu các chi phí tác nhân.
Hệ thống này thƣờng phổ biến tại những công ty có trụ sở ở những quốc gia theo truyền thống Thông luật (Common Law), chẳng hạn nhƣ Mỹ và Anh quốc. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cấu trúc quản trị nội bộ của một công ty cổ phần theo truyền thống Thông luật gồm có: Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng giám đốc. Hội đồng giám đốc đồng thời cũng là bộ phận điều hành công ty sẽ do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn. Các thành viên của Hội đồng giám đốc đƣợc gọi là directors.
Công việc kinh doanh của công ty đƣợc quản lý bởi, hay dƣới sự chỉ đạo của Hội đồng giám đốc. Hội đồng giám đốc bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc ngƣời khác đảm nhiệm các công việc điều hành họat động kinh doanh hàng ngày của công ty. Ngƣời đứng đầu của bộ phận điều hành là Tổng giám đốc. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc trong pháp luật Anh – Mỹ do Hội đồng giám đốc quyết định chứ không đƣợc quy định nhƣ trong pháp luật Việt Nam.
Do vậy, không phải các Tổng giám đốc đều có quyền lực nhƣ nhau [Xem Phụ lục 1]. (ii) Hội đồng quản trị hai tầng: Đặc trƣng của Hội đồng này là sự tồn tại của các bộ phận kiểm soát và quản lý tách biệt. Nó có hai tầng, ở trên đƣợc gọi là Hội đồng giám sát, ở dƣới là Hội đồng chấp hành – Hội đồng này đề bạt Ban giám đốc. Hội đồng ở trên yêu cầu hội đồng dƣới đệ trình các kế hoạch và đề nghị để xem xét, chấp thuận, sau đó kiểm tra lại và đánh giá kết quả thực hiện [Xem Phụ lục 2].
Cấu trúc hội đồng hai tầng với sự tham gia của ngƣời lao động trong các công ty cổ phần đã từng đƣợc cho là trái tim của nền công nghiệp Đức. Sự tham gia của ngƣời lao động vào cấu trúc quản trị công ty cổ phần theo luật Đức thể hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hƣớng về những ngƣời có liên quan, hƣớng vào việc bảo vệ ngƣời lao động và chủ nợ. Trong khi đó, mô hình quản trị kiểu Anh – Mỹ nhằm hƣớng tới cổ đông, tập trung bảo vệ nhà đầu tƣ, chủ yếu là cổ đông. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai đặc điểm quan trọng nhất trong cấu trúc Hội đồng kép theo luật công ty Đức là: + Cấu trúc quản trị có hai hội đồng theo thứ bậc: Đại hội đồng cổ đông, Ủy ban giám sát (hay còn gọi là Hội đồng giám sát) và Hội đồng chấp hành.
Việc quản lý điều hành công ty cổ phần đƣợc phân chia cho hai cơ quan: Hội đồng giám sát và Hội đồng chấp hành. + Có sự tham gia nhất định của đại diện ngƣời lao động vào Hội đồng giám sát. Tuy nhiên, dù là đi theo mô hình HĐQT một tầng hay hai tầng thì HĐQT đều đƣợc xem là trung tâm quyền lực của công ty, giữ vai trò quyết định trong việc xác định các mục tiêu chiến lƣợc, đồng thời đảm bảo các nguồn tài chính và nhân sự cần thiết đủ để thực hiện các mục tiêu chiến lƣợc này. Vì vậy, một công ty có phát triển bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào việc HĐQT có xác định đƣợc tầm nhìn chiến lƣợc và giám sát tình hình thực hiện cũng nhƣ quản trị rủi ro có tốt hay không? Hay nói một cách khác, HĐQT giỏi sẽ đƣa đến việc quản trị công ty tốt.2 Sự cần thiết phải có thành viên Hội đồng quản trị độc lập Dựa trên phƣơng diện cơ cấu quyền lực, công ty đƣợc tạo lập từ ba thành phần: cổ đông là ngƣời bỏ tiền, Hội đồng quản trị là ngƣời đƣợc giao giữ tiền và Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) là ngƣời dùng tiền để kinh doanh.
Cổ đông bỏ tiền vào công ty thì luôn luôn muốn số tiền ấy gia tăng và sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, do số lƣợng cổ đông lớn hoặc sinh sống ở những vùng khác nhau nên không phải ai cũng có thời gian, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh để điều hành công ty. Do đó, các cổ đông giao tiền cùng với quyền định đoạt số tiền ấy cho ngƣời quản lý, coi những ngƣời này là đại diện của mình để tiến hành kinh 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh và chỉ giữ lại một số quyền tối thiểu để tự bảo vệ, đồng thời ràng buộc trách nhiệm vào ngƣời đại diện cho mình. Những ngƣời quản lý này đƣợc tập hợp thành một hội đồng gọi là Hội đồng quản trị (HĐQT).
HĐQT đƣợc ví nhƣ là trung tâm của công ty, là cầu nối giữa các cổ đông và Ban giám đốc nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông nói riêng và toàn công ty nói chung. Trong đó các thành viên HĐQT là “khối óc điều khiển của doanh nghiệp” [14,tr. Họ có nghĩa vụ cẩn trọng và trung thành với lợi ích của công ty. Để thực hiện đƣợc nghĩa vụ đó, một yêu cầu đặt ra là các phán quyết mà HĐQT đƣa ra đòi hỏi phải có tính khách quan và độc lập.
Nếu các quyết định chỉ dựa trên lợi ích của một ngƣời/một nhóm ngƣời thì sẽ ảnh hƣởng xấu đến sự lành mạnh của công ty, là tiền đề xuất hiện những mâu thuẫn nội bộ. Thế nhƣng, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các quốc gia, các thành viên HĐQT lại là ngƣời đại diện cho số lƣợng lớn cổ phần trong công ty. Không những thế, những ngƣời này còn đƣợc bổ nhiệm giữ chức vụ trong Ban Điều hành/Ban Giám đốc. Trong khi đó, thiết chế HĐQT đƣợc đặt ra là để giám sát các hoạt động của Ban giám đốc.
Nếu một ngƣời giữ vị trí kiêm nhiệm nhƣ vậy thì quyền lợi của các cổ đông khác (đặc biệt là cổ đông thiểu số) liệu có đƣợc đảm bảo? Để nâng cao chất lƣợng quản trị công ty và khắc phục hiện tƣợng tƣ lợi , nhiều công ty trên thế giới đã áp dụng mô hình HĐQT có thành viên độc lập – gọi chung là thành viên HĐQT độc lập. Sƣ̣ cầ n thiết của thành viên HĐQT độc lập đƣơ ̣c lý giải bởi nhiề u nguyên nhân khác nhau.1 Đảm bảo tính khách quan trong các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty Trong một HĐQT, các thành viên đều là cổ đông, nhân viên hoặc ngƣời khác có quan hệ lợi ích bên trong công ty, rất khó có thể đƣa ra những quan 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.