Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa quan trị với nghèo đói Chương 2: Thực trạng về quản trị với giảm nghèo tại Việt Nam Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc day vai trò của quản trị đối với giảm nghèo tại Việt Nam đến năm 2025. 11 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE MOI QUAN HE GIỮA QUAN TRI VOI NGHEO DOI 1. Khdi niém vé quan trị Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) định nghĩa quản trị là: “Quản trị là thực thi quyền chính trị, kinh tế và hành chính để quản lý các công việc của quốc gia. Đó là các cơ chế, quy trình, mối quan hệ và thé chế phức tạp mà qua đó các công dân và các nhóm thể hiện rõ lợi ích của họ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ và làm trung gian cho sự khác biệt của họ.” (UNDP, 1997b, tr9) Gerry Stoker là Giáo sư về khoa học chính trị tại văn phòng chính phủ nước Anh, ông chủ yếu nghiên cứu về chính quyền nội địa, chính sách đô thị và có tầm ảnh hướng lớn đến giới khoa học về chủ đề này.
Stoker định nghĩa quản trị là “Hành động, cách thức hoặc hệ thống quan lý trong đó ranh giới giữa các tổ chức và khu vực công và tư đã trở nên thắm nhuan. Bản chat của quản trị là mối quan hệ tương tác giữa và trong các lực lượng chính phủ và phi chính phủ. Quan điểm tiêu chuẩn cho đến tương đối gần đây là các chính phủ có cả thẩm quyền và năng lực dé điều hành một cách hiệu quả và thực hiện các chính sách và kế hoạch của họ. Việc sử dụng ngày càng nhiều thuật ngữ quản trị là sự thừa nhận răng quan điểm này về chính phủ không còn hợp lệ nữa, nếu nó đã từng tồn tại, và kết quả phụ thuộc vào sự tương tác giữa nhiều bên.
Quyền lực là phân tán, và không phải là độc quyền nhà nước, do đó các kế hoạch và chính sách chỉ có thé đạt được thông qua mức độ đồng thuận và hợp tác. Chương trình nhân cư Liên Hợp Quốc (UN-Habitat) cho rang: “Quan tri ngày nay diễn ra trong một hệ thống đa tâm hơn gồm các tác nhân trong đó nha 12 nước ít chi phối hơn trước. Sự đa dạng của các tác nhân làm phức tạp việc hoạch định chính sách vì không có tác nhân nào đủ hợp pháp dé chỉ đạo sự thay đổi xã hội. Sự đồng thuận không còn được đưa ra bởi tính hợp pháp được cấp cho các hành động của nhà nước mà phải được xây dựng về mặt xã hội.
Điều này đòi hỏi liên minh, đoàn kết và thỏa hiệp.” Tuy nhiên, các định nghĩa về quản trị trên quá rộng và không phân biệt được giữa các đặc điểm thể chế khác nhau và các nguyên tắc cơ bản. Về van dé này, Longo (2008, trang 194) định nghĩa quản trị là một tập hợp các sắp xếp thể chế được sử dụng dé thông qua và thực hiện các quyết định công. Nó bao gồm các cau trúc, quy trình, người choi và mối quan hệ qua lại của họ, các quy tắc, cơ chế kiểm soát, thực thi và trách nhiệm giải trình, các biện pháp khuyến khích và nói chung là tat cả các yếu tổ liên quan đến các quyết định trong phạm vi công cộng. Longo (2008, trang 192) lập luận thêm rằng quản trị được đặc trưng bởi tính chất quan hệ của khu vực công trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn mới nảy sinh, đòi hỏi sự phối hợp và cộng tác ngày càng tăng từ phía chính phủ.
“Vì vậy, mặc dù chính phủ tốt nằm ở cốt lõi của quản trị tốt, hai khái niệm cần được phân biệt rõ ràng (Bert A. Rockman và Sung Deuk Hahm, 2011)”, mỗi khái niệm đều có phương thức chính trị và hình thành chính sách riêng biệt. Phạm vi của quản trị (được gọi là khu vực công) rộng hơn nhiều so với phạm vi của chính phủ (được gọi là khu vực nhà nước), vì nó không đồng đều với phạm vi của nhà nước hiện đại (xem Longo, 2008; Power, 2007). Trên thực tế, Kettl (1995, trang 31) lập luận, quản trị bao gồm một cái nhìn rộng lớn hơn nhiều về chính phủ và các thể chế khác.
Tại Việt Nam, quản trị được hiểu là “các nỗ lực phối hợp giữa các chủ thể sử dụng quyền lực của Nhà nước dé định hướng, điều chỉnh, theo dõi hoạt động của các quá trình phát triển của các chủ thể nhằm xây dựng và thực thi chính sách và các kế hoạch dé phân bé nguồn lực hợp lý, đả bảo việc cung cấp các dich vụ và tiện ích theo chuẩn mực chất lượng, bảo vệ quyền của các công dân và doanh nghiệp, dam bảo sự tuân thủ pháp luật, trật tự và giá tri xã hội, bảo vệ môi trường để tạo dựng và duy trì chất lượng sống môi trường”. Các mô hình quản trị Theo Nguyễn Đình Hương (2003), có ba mô hình quản trị nhà nước chủ yếu: Mô hình quản trị lay xã hội làm chủ đạo, mô hình quan trị lay kinh tế làm chủ đạo và mô hình quản trị hỗn hợp là kết hợp giữa hai mô hình trên. Mỗi loại mô hình có những đặc điểm riêng cũng như ưu điểm và nhược điểm khác nhau, từng loại mô hình được áp dụng phù hợp vào từng đặc điểm nhà nước khác nhau. Thứ nhất, mô hình quản tri lay xã hội làm chủ đạo đặt trọng tâm vào quan lý môi trường pháp lý và các van đề đối ngoại.
Nhà nước sẽ thực hiện chính sách quản lý hướng tới đảm bảo công băng xã hội, trật tự xã hội; Tạo khung pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển cũng như cạnh tranh với nhau dé thu hút nguồn lực từ bên ngoài Nhà nước. Thành phần kinh tế nhà nước chỉ nắm vai trò bổ sung cho xã hội, nền kinh tế và Chính quyền tập trung vào việc cung ứng các dịch vụ công cộng đáp ứng các nhu cầu chung của xã hội. Ưu điểm của mô hình là bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hiệu quả và doanh nghiệp được tự chủ trong sản xuất, phát triển. Tuy nhiên, điểm yếu của mô hình là tự do cạnh tranh dễ dân đến tình trạng thất nghiệp khó kiểm soát và nguy cơ khủng hoảng kinh tế cao.
Vì vậy, mô hình này phù hợp với các quốc gia có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, cấu trúc hạ tầng phát triển và mức độ nhận thức của các thành phần xã hội cao. Đây cũng chính là đặc điểm phù hợp của các nước công nghiệp, phát triển trên thé giới. Thứ hai, mô hình quản trị lấy kinh tế làm chủ đạo đặt trọng tâm vào quản lý và phát triển kinh tế thống qua các cấp quan lý theo quy trình và kế hoạch cụ thé được phân quyền từ trên xuống. Đây là mô hình quản trị mang nặng tính hành chính trong đó doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chính trong nền kinh tế.
Ưu điểm của mô hình là không phân tán nguồn vốn và thúc đây phát triển nền kinh tế trong điều kiện tài chính thấp. Tuy nhiên, thành phần kinh tế Nhà nước kém chủ động và tình trạng lãng phí cũng như tham nhũng khó giải quyết dẫn đến sự kém hiệu quả trong bộ máy quản lý. Vì vậy, mô hình này phù hợp với quốc gia có điều kiện phát triển kinh tế thấp và cơ sở hạ tang kém phát trién. Thứ ba, mô hình quản trị hỗn hợp có mục tiêu cân bằng giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội.
Đây chính là mô hình quản trị Nhà nước định hướng 14 XHCN được Việt Nam thực hiện từ thời kỳ Đồi Mới năm 1986. Mục tiêu quản lý nhằm điều tiết, cân bằng giữa khu vực tư nhân và Nhà nước thông qua các công cụ tài chính và hệ thống pháp lý. Ưu điểm của mô hình là đảm bảo phát triển cân băng giữa kinh tế và xã hội, tránh tình trạng kém hiệu quả của Nhà nước và vốn đầu tư được sử dụng một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là bộ máy quản lý chồng chéo, khó thống nhất trong các vấn đề đất đai, luật pháp.
Vì vậy, mô hình phù hợp với các nước có nền kinh tế trong tình trạng chuyền đổi, cầu trúc hạ tang và tiếp cận thông tin kém, điển hình là các nước đang phát triển. Đo lường quan trị Trong những năm gần đây, số lượng và loại chỉ số quản trị đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, giai đoạn này có rất ít sự thống nhất về việc sử dụng chúng và có rất it ví dụ về các chỉ số quan trị có tác động đáng kê đến các hành động chính sách của các chính phủ hoặc đến các cải cách cụ thể. Hầu hết sự gia tăng của chuỗi chỉ số quản trị chỉ xuất hiện trong vai năm gần đây, và phạm vi hạn chế theo thời gian khiến việc chứng minh một cách thuyết phục các mối quan hệ nhân quả giữa quản trị và các thước đo về hạnh phúc trở nên khó khăn hơn.
Các nghiên cứu sử dụng các chỉ số này xác nhận rằng sự phát triển đã xảy ra ở nơi hiện có quản trị tốt - nhưng điều này không đàm bảo răng chúng chỉ ra nơi phát triển sẽ xảy ra trong tương lai một cách đáng tin cậy. Các chỉ số quản trị đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu, kiểm tra mối liên hệ giữa quản trị tốt và kết quả kinh tế, đặc biệt được quan tâm đến nghéo đói. Chỉ số CPIA (Country Policy and Institutional Assessment) nhằm muc dich danh gia chat lượng của khung thé chế và chính sách hiện tại của một quốc gia. "Chất lượng" đề cập đến mức độ thuận lợi của khuôn khổ đó trong việc thúc đây giảm nghèo, tăng trưởng bền vững và sử dụng hiệu quả hỗ trợ phát triển.
Chỉ số này được sử dụng từ những năm 1970 và phát triển bởi NHTG, hiện nay đã được áp dụng trên 78 quốc gia. CPIA xếp hạng các quốc gia dựa trên bộ 16 tiêu chí được nhóm lại thành bốn cụm: (a) quản lý kinh tế; (b) các chính sách cơ cấu; (c) các chính sách về hòa nhập xã hội và công bằng: (d) quan lý và thể chế khu vực công. 15 Đối với từng tiêu chí trong các cụm trên, điểm số các quốc gia được đánh giá theo thang điểm từ 1 (thấp) đến 6 (cao). Điểm số phụ thuộc vào mức độ hoạt động trong một năm nhất định được đánh giá dựa trên các tiêu chí, hơn là vào những thay đôi vê hiệu suât so với năm trước.
Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) được thu nhập từ năm 1979 tại 125 quốc gia và được phát triển bởi Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) và dai học Columbia.