Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bảo hiểm hiện đại vận hành dựa trên nguyên lý phân tán rủi ro quy mô lớn. Đối với các đơn vị bảo hiểm có giá trị vượt quá khả năng tài chính của một doanh nghiệp đơn lẻ, tái bảo hiểm trở thành giải pháp cốt lõi nhằm san sẻ trách nhiệm bồi thường và đảm bảo an toàn thanh khoản. Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm chính thức được định hình từ ngày 27 tháng 09 năm 1994 khi Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 920TC/QĐ/TCCB thành lập Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare), chính thức đi vào vận hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 với số vốn điều lệ ban đầu tương đối khiêm tốn và sau đó tăng lên 3.000 tỷ đồng. Đến ngày 22 tháng 09 năm 2011, Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm PVI (PVIRe) được cấp phép với vốn điều lệ 460 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp chuyên kinh doanh tái bảo hiểm chuyên nghiệp lên 2 đơn vị trên toàn quốc.

Mặc dù quy mô thị trường ngày càng mở rộng, hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng tái bảo hiểm tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống. Các quy định hiện hành chủ yếu lồng ghép trong Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung số 61/2010/QH12 mà chưa có văn bản hướng dẫn chuyên biệt. Luận văn tập trung nghiên cứu khung pháp lý và thực tiễn giao kết, thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm tại Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2015, đối chiếu với thông lệ quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa lý luận, làm rõ 4 nhóm quan hệ hợp đồng tái bảo hiểm đặc thù, chỉ ra các vướng mắc pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao tỷ lệ giữ lại phí bảo hiểm nội địa, hạn chế thất thoát khoảng 60% lưu chuyển ngoại tệ ra thị trường bảo hiểm nước ngoài và củng cố hàng rào an toàn cho toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng 2 lý thuyết nền tảng trong kinh tế học và luật học thương mại: Lý thuyết phân tán rủi ro (Risk Diversification Theory) và Lý thuyết hợp đồng kinh tế về bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory). Lý thuyết phân tán rủi ro luận giải cơ chế chuyển dịch trách nhiệm dân sự từ nhà bảo hiểm gốc sang nhà nhận tái bảo hiểm nhằm bảo toàn khả năng thanh toán khi xảy ra các thảm họa quy mô lớn. Lý thuyết bất cân xứng thông tin làm sáng tỏ nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost Good Faith) – nguyên tắc cốt lõi điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp thông tin tổn thất giữa các chủ thể.

Mô hình nghiên cứu thiết lập cấu trúc phân tích hợp đồng tái bảo hiểm dựa trên 4 khái niệm pháp lý trọng tâm:

  1. Bản chất hợp đồng phái sinh: Hợp đồng tái bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm, trong đó đối tượng bảo hiểm luôn là trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp bảo hiểm gốc phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm ban đầu.
  2. Mức giữ lại (Retention limit): Hạn mức trách nhiệm tài chính tối đa mà nhà bảo hiểm gốc tự gánh chịu, được quy định chặt chẽ ở mức không quá 5% vốn chủ sở hữu trên mỗi rủi ro đối với doanh nghiệp bảo hiểm và không quá 10% vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tái bảo hiểm theo Thông tư 124/2012/TT-BTC.
  3. Hoa hồng tái bảo hiểm (Reinsurance commission): Khoản chi phí nhà nhận tái hoàn trả cho nhà bảo hiểm gốc nhằm bù đắp chi phí khai thác và quản lý rủi ro ban đầu.
  4. Cơ chế phân loại hợp đồng: Bao gồm tái bảo hiểm theo số tiền (hợp đồng số thành, hợp đồng mức dôi) và tái bảo hiểm theo mức bồi thường (vượt mức bồi thường, vượt tỷ lệ bồi thường).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Nghị định 100-CP, Nghị định 45/2007/NĐ-CP, Nghị định 123/2011/NĐ-CP, Thông tư 124/2012/TT-BTC) và các báo cáo thống kê thường niên của Bộ Tài chính, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV). Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm chuyên nghiệp đang hoạt động tại thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu toàn bộ có chủ đích (purposive complete sampling) đối với các doanh nghiệp có hoạt động nhận và nhượng tái bảo hiểm phát sinh nghĩa vụ bồi thường lớn. Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm: phương pháp luật học so sánh kết hợp phân tích quy phạm và thống kê định lượng. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đối chiếu sự tương thích giữa quy định nội địa với các điều khoản tiêu chuẩn quốc tế của Munich Re, Swiss Re và Lloyd's, đồng thời định lượng hóa chính xác các tác động của hạn ngạch mức giữ lại lên an toàn tài chính doanh nghiệp. Timeline nghiên cứu bao quát từ năm 2001 (thời điểm Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 có hiệu lực) đến năm 2015, tập trung phân tích thực nghiệm số liệu giai đoạn 5 năm trọng điểm từ 2008 đến 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng pháp luật và dữ liệu thị trường đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô tài chính của các nhà nhận tái bảo hiểm trong nước còn hạn chế so với nhu cầu bảo hiểm công nghiệp. Với tổng vốn điều lệ của Vinare là 3.000 tỷ đồng và PVIRe là 460 tỷ đồng, năng lực nội địa chỉ hấp thu được khoảng 30% đến 35% tổng giá trị trách nhiệm của các đơn bảo hiểm năng lượng, hàng hải và xây dựng lắp đặt lớn, dẫn đến việc hơn 65% rủi ro phải chuyển dịch ra nước ngoài.

Thứ hai, việc sửa đổi Điều 9 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 đã bãi bỏ quy định tái bảo hiểm bắt buộc cho doanh nghiệp trong nước. Sự điều chỉnh này thúc đẩy tự do hóa thương mại nhưng đồng thời làm giảm tỷ trọng phí nhận tái bảo hiểm nội địa khoảng 12% trong năm đầu tiên áp dụng, tạo áp lực cạnh tranh trực tiếp giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn tái bảo hiểm toàn cầu.

Thứ ba, tỷ lệ giữ lại thực tế của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm gốc ở mức thấp, trung bình chỉ đạt khoảng 3,5% đến 4,2% vốn chủ sở hữu, thấp hơn đáng kể so với hạn mức tối đa 5% cho phép tại Thông tư 124/2012/TT-BTC. Điều này phản ánh tâm lý e ngại rủi ro và xu hướng lạm dụng chuyển nhượng rủi ro để thu hoa hồng tái bảo hiểm.

Thứ tư, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời (Facultative) chiếm khoảng 70% tổng số vụ tranh chấp tái bảo hiểm, chủ yếu do thời hạn hiệu lực và điều khoản loại trừ của hợp đồng tái không thống nhất với hợp đồng bảo hiểm gốc.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CƠ CẤU VỐN VÀ MỨC GIỮ LẠI PHÁP ĐỊNH                   |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Tiêu chí                      | Doanh nghiệp bảo hiểm | Doanh nghiệp TBH|
+-------------------------------+-----------------------+-----------------+
| Vốn điều lệ tiêu biểu         | 300 - 1.000 tỷ đồng   | 460 - 3.000 tỷ  |
| Hạn mức giữ lại tối đa        | 5% vốn chủ sở hữu     | 10% VCSH        |
| Mức giữ lại thực tế bình quân | 3,5% - 4,2% VCSH      | 6,8% - 8,5% VCSH|
| Tỷ lệ rủi ro chuyển nhượng    | 60% - 65% tổng phí    | 30% - 40% phí   |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc vào tái bảo hiểm quốc tế bắt nguồn từ sự thiếu vắng các quy định chuyên sâu về biểu mẫu hợp đồng và cơ chế giải quyết tranh chấp trong nước. Khi đối chiếu với các nghiên cứu của các chuyên gia ngành bảo hiểm, kết quả cho thấy việc áp dụng trực tiếp quy chế hợp đồng bảo hiểm thông thường cho hợp đồng tái bảo hiểm là không tương thích, bởi đối tượng của hợp đồng tái bảo hiểm là trách nhiệm dân sự phái sinh chứ không phải tài sản hay tính mạng của khách hàng ban đầu.

Dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2008 – 2012 phản ánh rõ nét mối tương quan giữa quy mô vốn và khả năng nhận tái bảo hiểm qua bảng ma trận rủi ro. Các số liệu có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng phí nhận tái bảo hiểm quốc tế tăng bình quân 15% mỗi năm, trong khi biểu đồ cột chồng minh họa cơ cấu phí tái bảo hiểm nhượng ra nước ngoài luôn áp đảo trên 60%. Nếu các doanh nghiệp bảo hiểm gốc không tăng cường vốn chủ sở hữu và tiếp tục duy trì mức giữ lại dưới 4%, biên độ an toàn tài chính sẽ suy giảm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm diện rộng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, ban hành văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt điều chỉnh hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp cần hoàn thiện Dự thảo Thông tư hướng dẫn riêng về hợp đồng tái bảo hiểm trước quý 4 năm 2016. Văn bản cần định danh cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng bên, cơ chế quản lý phí tạm giữ lại và quy trình xử lý khi doanh nghiệp bảo hiểm gốc thanh toán bồi thường trước hạn, hướng đến mục tiêu minh bạch hóa 100% các điều khoản hợp đồng.

Thứ hai, tiêu chuẩn hóa hệ thống hợp đồng mẫu tái bảo hiểm quốc gia. Cục Quản lý giám sát bảo hiểm kết hợp cùng Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam xây dựng bộ mẫu hợp đồng song ngữ chuẩn hóa (tiếng Việt và tiếng Anh) cho 5 nghiệp vụ trọng điểm: tài sản, kỹ thuật, hàng hải, hàng không và trách nhiệm dân sự trước năm 2017. Mục tiêu cắt giảm ít nhất 80% các tranh chấp liên quan đến việc hiểu sai lệch thuật ngữ bảo hiểm quốc tế.

Thứ ba, nâng mức vốn điều lệ và tối ưu hóa tỷ lệ giữ lại nội địa. Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ tối thiểu 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2016 – 2020. Doanh nghiệp bảo hiểm gốc cần tối ưu hóa tỷ lệ giữ lại lên sát mức trần 5% vốn chủ sở hữu theo Thông tư 124/2012/TT-BTC, qua đó giảm tỷ lệ chuyển phí nhượng ra nước ngoài từ trên 65% xuống mức an toàn dưới 50%.

Thứ tư, siết chặt tiêu chuẩn an toàn đối với các tổ chức nhận tái bảo hiểm quốc tế. Cơ quan thanh tra bảo hiểm cần giám sát định kỳ 100% giao dịch nhượng tái ra nước ngoài. Doanh nghiệp nhận tái đứng đầu nhận từ 10% tổng mức trách nhiệm bắt buộc phải duy trì hệ số tín nhiệm tối thiểu BBB+ theo Standard & Poor's hoặc Fitch, B++ theo A.M. Best, hoặc Baa1 theo Moody's theo quy định tại Nghị định 45/2007/NĐ-CP trước năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cục Quản lý giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) và các cơ quan tư pháp sử dụng kết quả nghiên cứu làm luận cứ thực tiễn để soạn thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, xây dựng các quy chế kiểm soát an toàn vốn và định mức giữ lại bảo hiểm.
  2. Doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm: Hội đồng quản trị, ban điều hành và bộ phận pháp chế tại 29 công ty bảo hiểm gốc (Bảo Việt, Bảo Minh, PVI, PTI) và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (Vinare, PVIRe) ứng dụng khung phân tích để hoàn thiện quy trình thẩm định rủi ro, đàm phán hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời và quản trị hạn mức giữ lại an toàn.
  3. Luật sư, trọng tài viên và chuyên gia giải quyết tranh chấp: Đội ngũ hành nghề luật tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) và các văn phòng luật sư sử dụng luận văn làm tài liệu tra cứu chuyên sâu về bản chất phái sinh, trách nhiệm độc lập của nhà bảo hiểm gốc và cơ chế giải thích điều khoản hợp đồng quốc tế.
  4. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các trường đại học chuyên ngành Luật kinh tế, Bảo hiểm và Tài chính – Ngân hàng sử dụng tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật thương mại quốc tế và các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công cụ tài chính chuyển giao rủi ro.

Câu hỏi thường gặp

Hợp đồng tái bảo hiểm có làm chuyển dịch trách nhiệm bồi thường trực tiếp của doanh nghiệp bảo hiểm gốc đối với khách hàng mua bảo hiểm không?

Không. Theo Điều 27 Luật Kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm gốc là chủ thể duy nhất chịu trách nhiệm pháp lý trước bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm ban đầu. Ngay cả khi đã tái bảo hiểm 90% trách nhiệm cho nhà nhận tái, doanh nghiệp bảo hiểm gốc vẫn phải chi trả 100% số tiền bồi thường cho khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, sau đó mới tiến hành đòi bồi hoàn từ các công ty nhận tái bảo hiểm.

Mức giữ lại tối đa trên mỗi rủi ro đơn lẻ của doanh nghiệp bảo hiểm được pháp luật quy định ở mức bao nhiêu?

Căn cứ theo Điều 44 Thông tư 124/2012/TT-BTC, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ chỉ được phép giữ lại mức trách nhiệm tối đa trên mỗi rủi ro hoặc tổn thất riêng lẻ không quá 5% vốn chủ sở hữu. Đối với doanh nghiệp chuyên kinh doanh tái bảo hiểm, hạn mức giữ lại tối đa không quá 10% vốn chủ sở hữu. Phần giá trị rủi ro vượt quá tỷ lệ này bắt buộc phải thu xếp tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm.

Việc bãi bỏ quy định tái bảo hiểm bắt buộc tại Luật sửa đổi năm 2010 mang lại tác động gì cho thị trường?

Quy định bãi bỏ tại Điều 9 Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010 đã chấm dứt cơ chế bảo hộ đối với các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước như Vinare. Sự thay đổi này giúp các doanh nghiệp bảo hiểm gốc chủ động lựa chọn đối tác quốc tế có năng lực tài chính mạnh, đồng thời tạo sức ép buộc 100% doanh nghiệp tái bảo hiểm nội địa phải nâng cao năng lực vốn và chất lượng dịch vụ để cạnh tranh bình đẳng.

Nhà nhận tái bảo hiểm nước ngoài phải đáp ứng tiêu chuẩn xếp hạng tín nhiệm nào để được chấp nhận tại Việt Nam?

Theo Điều 25 Nghị định 45/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và nhận từ 10% tổng mức trách nhiệm trở lên của mỗi hợp đồng bảo hiểm phải đạt mức xếp hạng tín nhiệm tối thiểu là BBB+ theo Standard & Poor's hoặc Fitch, B++ theo A.M. Best, hoặc Baa1 theo Moody's tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm nhận tái bảo hiểm.

Hành vi nhượng lại 100% trách nhiệm bảo hiểm đã nhận để hưởng hoa hồng có hợp pháp không?

Hành vi này bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 23 Nghị định 45/2007/NĐ-CP. Doanh nghiệp bảo hiểm không được nhượng toàn bộ 100% trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng cho doanh nghiệp khác chỉ nhằm mục đích hưởng phí hoa hồng tái bảo hiểm như một đơn vị môi giới trung gian, trừ trường hợp có hướng dẫn cụ thể từ Bộ Tài chính nhằm đảm bảo tính an toàn hệ thống.

Kết luận

  • Bản chất pháp lý cốt lõi: Luận văn khẳng định hợp đồng tái bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phái sinh, vận hành trên nguyên tắc bồi hoàn độc lập và trung thực tuyệt đối giữa các tổ chức kinh doanh bảo hiểm.
  • Đánh giá thực trạng quy chuẩn: Hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2001 – 2015 đã bước đầu thiết lập khung khổ quản lý hạn mức giữ lại (5% và 10% vốn chủ sở hữu), nhưng vẫn còn thiếu vắng các quy định chi tiết về hợp đồng mẫu và giải quyết tranh chấp.
  • Năng lực tài chính thị trường: Với 2 đơn vị chuyên kinh doanh tái bảo hiểm có tổng vốn điều lệ 3.460 tỷ đồng, thị trường nội địa mới đáp ứng được hơn 30% nhu cầu bảo hiểm các công trình lớn, làm phát sinh lượng phí nhượng ra quốc tế chiếm trên 60%.
  • Lộ trình hoàn thiện pháp luật: Đề xuất Bộ Tài chính ban hành Thông tư chuyên ngành và xây dựng bộ hợp đồng chuẩn hóa song ngữ cho 5 nhóm nghiệp vụ chính trước giai đoạn 2017 – 2020.
  • Nâng cao năng lực giám sát: Thiết lập cơ chế kiểm soát định kỳ 100% các hợp đồng nhượng tái nước ngoài và áp dụng nghiêm ngặt chuẩn xếp hạng tín nhiệm quốc tế từ BBB+ trở lên.

Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong lĩnh vực bảo hiểm. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm và chuyên gia pháp lý cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, chuẩn hóa khung pháp lý để thị trường tái bảo hiểm Việt Nam phát triển bền vững và hội nhập quốc tế hiệu quả.