Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG. Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày khái quát những tiền đề lý thuyết là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu. Đó là lý thuyết về đặc điểm của hai thể loại kế cận nhau : tự truyện và hồi kí - tự truyện; lý thuyết về nghiên cứu diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn tự truyện và diễn ngôn hồi kí - tự truyện về các mặt như nội dung, cảm hứng, các phương thức biểu hiện, ngôn từ, không - thời gian,… Và một phần không thể thiếu đó chính là vị trí, vai trò của thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện trong sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài. Chương 2: MÃ NỘI DUNG DIỄN NGÔN TRONG TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ - TỰ TRUYỆN CỦA NGUYÊN HÔNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI.
Trong chương này, chúng tôi tập trung nghiên cứu diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện của Tô Hoài, Hồ Dzếnh, Nguyên Hồng về phương diện nội dung, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố “sự thật” cũng như các “quyền lực”, các yếu tố trong và ngoài thể loại đã chi phối đến tái hiện những “sự thật” trong quá khứ đó. Trung tâm là sự chi phối của động cơ, mục đích và các yếu tố có cơ chế tác động gián tiếp như thể chế kinh tế, xã hội, sắc tộc, tôn giáo,. Chúng tôi sẽ đặt những diễn ngôn nghệ thuật trong tương quan với hoàn cảnh 14 sáng tác, hoàn cảnh tiếp nhận, tất cả các yếu tố có ảnh hưởng tới việc nhà văn nói hay không nói một vấn đề, cách nói… Chương 3: MÃ NGHỆ THUẬT DIỄN NGÔN TRONG TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ - TỰ TRUYỆN CỦA NGUYÊN HÔNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI. Trong chương này chúng tôi tiến hành phân tích diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài về các phương diện cấu trúc diễn ngôn, kĩ thuật tạo tác các loại diễn ngôn cũng như sự pha trộn, lấn át thể loại kề cận.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 1. Tự truyện, hồi kí - tự truyện như là những loại hình diễn ngôn 1. Khái niệm hồi kí; tự truyện ; hồi kí - tự truyện Trong những thập kỉ gần đây, hướng nghiên cứu thể loại trở thành một trong những xu thế nổi bật của khoa nghiên cứu văn học. Theo Bakhtin: “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” 1.
Phân xuất và xác lập đặc trưng của từng thể loại là một công việc vô cùng 0F cần thiết. Nguyễn Thành Thi trong công trình Văn học thế giới mở đã nhận định: “Nhà văn khi sáng tác tác phẩm bao giờ cũng sáng tác theo một mô hình thể loại xác định. Thể loại tác phẩm văn học, thường được hiểu là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [79, tr. Hồi kí Hồi kí là một thể loại văn học thuộc loại hình kí, ghi chép một cách chân xác người thật việc thật, nó gắn liền với một thời điểm lịch sử xã hội nhiều biến động và qua hồi kí, người đọc không chỉ hình dung được cuộc đời của nhân vật kể chuyện mà còn có thể hình dung được một cách khái quát bức tranh xã hội, lịch sử thời kì ấy.
Có nhiều tài liệu đã đưa ra định nghĩa về thể loại này, có thể kể đến: Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến… Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật kí. Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần 1 Vũ Tuấn Anh, Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, TCVH số 9/1996, tr. 16 với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [23, tr. Hồi kí giống với nhật kí ở hình thức giãi bày, tâm sự, cách kể chuyện theo trình tự thời gian, chú ý đến các sự kiện mang tính chất tiểu sử.
Còn về phương diện chất liệu, tính xác thực, không sử dụng hư cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, kí sự tư liệu lịch sử. Tuy nhiên, khác với các thể loại vừa nhắc đến, hồi kí chỉ tái hiện lại những gì gây ấn tượng sâu đậm trong lòng tác giả, chỉ kể lại những gì nằm trong tầm quan sát của chủ thể kể, vì thế, những sự kiện trong hồi kí không thể chuẩn xác và toàn diện, đầy đủ như trong các tư liệu gốc, các chứng tích. Hơn thế nữa, hồi kí là một thể loại văn học, đã là văn thì dù ít hay nhiều, dù thể hiện qua phương diện không dễ nhận thấy đi chăng nữa thì hồi kí cũng in đậm dấu ấn của tác giả, được thể hiện bằng phong cách ngôn ngữ văn chương, một lối văn sinh động, hình tượng, biểu cảm. Theo Từ điển văn học của Đỗ Đức Hiểu, hồi kí là “thuật ngữ chỉ một thể loại nằm trong nhóm thể tài ký.
Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [29, tr. Theo chúng tôi nhận thấy, định nghĩa này của Đỗ Đức Hiểu nhấn mạnh vai trò của chủ thể trần thuật. Trong những tác phẩm hồi kí, người kể chuyện đó cũng chính là tác giả tiến hành một cuộc hồi tưởng, kể lại những chuyện mà mình đã trải qua hoặc chính bản thân mình chứng kiến. Đương nhiên, những sự kiện đó là những sự kiện gây ấn tượng sâu đậm trong lòng tác giả và nằm trong mạch kể, là một mảnh ghép góp phần hoàn thành chỉnh thể tác phẩm, chứ không phải những mảnh hồi ức đứt đoạn, không có liên hệ nào với những mảnh hồi ức còn lại.
Trong bài Kí và giảng dạy Kí, Hoàng Như Mai định nghĩa: “Hồi kí ghi lại những sự việc đã qua, nhưng những sự việc ấy không phải thuộc vào một thời kì lịch sử xa xôi mà phải gần gũi, có liên quan khá mật thiết với hiện tại. Hồi kí thường là do những người đang còn sống kể lại” [53, tr. Một luận điểm đáng lưu ý của Hoàng Như Mai đó chính là tính liên hệ của ý thức hồi tưởng với những gì đang xảy ra trong hiện tại. Người viết hồi kí không chỉ nhằm mục đích kể lại, tái hiện lại quá khứ mà sâu xa hơn là giải thích cho những gì trong hiện tại, có mối liên hệ gần gũi với thực tại.
17 Như vậy, nói một cách khái quát, cô đọng – theo tổng hợp của người thực hiện luận văn này – hồi kí có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, hồi kí là những tác phẩm mà ở đó người kể chuyện cũng chính là tác giả đang viết lại, kể lại về cuộc đời thực tại, về người thật, việc thật có liên quan đến bản thân mình nhưng thường được viết như là sự phản ứng với những biến cố thời sự nóng bỏng đang đặt ra trong cuộc sống. Vì thế mà ngôn ngữ của hồi kí phải đảm bảo tính xác thực, tôn trọng sự kiện của cuộc đời thực. Tính thông tin sự kiện và tính thời sự là hai đặc điểm nổi bật của hồi kí. Thứ hai, tác phẩm hồi kí phải thể hiện được mối quan hệ giữa “tính truyện” và “tính nghiên cứu”, giữa tư duy sáng tạo văn học và tư duy nghiên cứu khoa học.
Tác giả không chỉ viết những điều mình trông thấy, mình nghiền ngẫm mà còn phải tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu, lý giải do đâu mà có như vậy. Hơn nữa, những lý giải đó còn phải thuyết phục người đọc. Tự truyện Cũng nằm trong hệ thống những thể loại viết về lịch sử - chuyện đời như một “dòng chảy”, nhưng là thể trung gian giữa tự sự hư cấu và tự sự phi hư cấu, tự truyện mang trong mình những đặc trưng thể loại riêng. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình…” [23, tr.
Có thể thấy, đặc trưng lớn nhất của thể loại tự truyện đó chính là chủ thể trần thuật tự kể lại chính câu chuyện cuộc đời mình. Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên: “Tự truyện là những câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả… Theo Lơjon, bởi vì, về quá khứ, kỷ niệm bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy khi viết tự truyện đã trải qua biết bao cảnh đời, và vì các sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng hợp với sự thật… Tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết…” [29, tr. Đây chính là 18 những căn cứ xác thực để xác lập sự khu biệt giữa tự truyện và các loại văn chân dung, hồi kí. Trong bài viết Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản Đà) – những bước đi đầu tiên của Tự truyện Việt Nam, Lê Tú Anh đã nêu ra ba quy ước để một tác phẩm được xem là tự truyện, chúng tôi xin được tóm tắt lại: 1/ Tự truyện là chuyện đời của chính người viết.
Có một lưu ý cho quy ước này, chuyện đời của người viết phải là những chuyện có thực, là cuộc đời nhà văn đã nghiệm sinh. Nói cách khác, tác giả tự truyện phải là con người hữu thể, đã sống thật. 2/ Người viết tự truyện phải đặt cái “tôi” của mình ở vị trí trung tâm tác phẩm để tự quan sát, đào xới, lý giải bằng nhãn quan cá nhân. Nghĩa là, nhà văn viết tự truyện phải sử dụng điểm nhìn nội quan trong trần thuật.
Tuy nhiên, trong khi đi tìm cái “tôi”, một tự truyện đích thực phải đạt tới cái “chúng ta”. 3/ Nhà văn kể lại chuyện đời mình trong tinh thần tự phán xét, tự chất vấn lương tâm.