đặt vấn đề là phải đi tìm hiểu văn hóa dân gian. Người già có kể cho con cháu nghe nhưng không phải tất cả con cháu đều lưu tâm và coi trọng. Một bộ phận những người hiểu biết văn hóa dân gian, văn học dân gian thì do hoàn cảnh nên suốt ngày đầu tắt mặt tối mưu sinh, vốn văn học dân gian đã chìm sâu vào ẩn ức, người không có kinh nghiệm như chúng tôi thật không dễ dàng gì khơi gợi lại được. Vốn văn hóa dân gian, văn học dân gian đang ngày càng lẩn khuất và chìm sâu theo thời gian.
Vì vậy, vấn đề điền dã, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian, văn học dân gian là một vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết trong khoa nghiên cứu văn hóa dân gian, văn học dân gian. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ, do thời gian và công tác sưu tầm, điền dã được thực hiện bởi cá nhân nên chúng tôi không thể tiến hành được trên phạm vi diện rộng, điều tra theo phương pháp sưu tầm cuốn chiếu, tức là điều tra hết địa bàn này sang địa bàn khác (tiêu chí là không bỏ sót), mà chúng tôi chỉ có thể tiến hành theo phương pháp sưu tầm chọn hạt nhân. Tức là chúng tôi tiến hành khoanh vùng, chọn lọc những nơi, những địa điểm được nghi ngờ có tồn tại hiện tượng văn học dân gian, sự gợi ý này chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sưu khảo trước đó và dựa trên đặc trưng văn học dân gian nói chung và văn học dân gian Nam Bộ nói riêng, đó là đặc trưng các hiện tượng văn học dân gian hay gắn với đình, miếu, đền, chùa, những cơ sở tín ngưỡng, thờ tự các vị anh hùng, những người có công khai hoang, lập làng, 18 lập ấp,… đối với cư dân vùng đất mới mà Tây Ninh là một bộ phận. Bên cạnh đó, chúng tôi kết hợp với tiêu chí lựa chọn đối tượng điều tra, điền dã.
Đó là những người lớn tuổi, những người có vốn hiểu biết văn hóa dân gian, văn học dân gian lâu đời ở địa phương. Kết lại, công tác sưu tầm, điền dã của chúng tôi dựa trên hai tiêu chí: 1. Phạm vi xoay quanh đình, miếu, đền, chùa; 2. Đối tượng là những người lớn tuổi, những người hiểu biết vốn tri thức dân gian ở địa phương.
Một điều cần phải nói rõ là, chúng tôi không giới hạn phạm vi câu hỏi điều tra xoay quanh đình, miếu, đền, chùa mà có sự kết hợp mở rộng phạm vi câu hỏi ra những hiện tượng văn học dân gian không gắn với đình, miếu, đền, chùa. Từ đó, sưu tầm được truyện dân gian đa dạng về đề tài, chứ không hề có ý định “đóng gói” ở một đề tài nào cụ thể. Bên trên, là vài điều chúng tôi đã tiếp thu được từ các tài liệu về công tác sưu tầm, điền dã văn học dân gian địa phương và bước đầu ứng dụng mang tính chất hoạch định phương hướng trong công tác điền dã, sưu tầm truyện dân gian Tây Ninh của chúng tôi trên cơ sở phù hợp với thực tế địa phương Tây Ninh. Bởi vì, tất cả các hiện tượng đều có tính đặc trưng, tức trong cái chung luôn tồn tại cái riêng để khu biệt nó với các hiện tượng cùng cấp khác trong một chỉnh thể mà nó là bộ phận.
Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa – tín ngưỡng Nghiên cứu văn học dân gian địa phương, tất yếu sẽ có liên quan nhiều đến văn hóa dân gian địa phương. Cho nên, việc đi tìm, định hình mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian là việc làm cần thiết không thể bỏ sót. Văn học dân gian vừa là một bộ phận của văn học nghệ thuật ngôn từ vừa là một bộ phận của văn hóa dân gian. Lẽ dĩ nhiên, nó phải có những mối quan hệ mật thiết với các bộ phận khác trong một chỉnh thể của văn hóa dân gian.
Đời sống văn hóa dân gian về mặt tinh thần không đâu được biểu hiện sâu sắc hơn ở bộ phận phong tục, tín ngưỡng. Vì thế đi tìm mối quan hệ giữa 19 văn học dân gian và phong tục, tín ngưỡng sẽ phần nào nhận chân được bản chất của văn học dân gian một cách định tính. Nguyễn Đổng Chi chẳng phải đã từng nói: “Truyền thuyết và cổ tích có mối quan hệ không ít đến tín ngưỡng, phong tục của một dân tộc […] cho nên xung quanh phong tục, nhất là tín ngưỡng, thường vẫn có truyền thuyết hoặc cổ tích lưu hành […]. Đặc biệt ở Việt Nam, gần như mỗi một thắng cảnh, mỗi một đền địa phương đều có gắn liền với một hoặc nhiều truyền thuyết, cổ tích”.
“Có thể nói tín ngưỡng là vú nuôi của truyền thuyết, cổ tích, ngược lại, truyền thuyết, cổ tích là kẻ tuyên truyền đắc lực cho tín ngưỡng”. Mặc dù chỉ khoanh vùng ở thể loại văn xuôi tự sự dân gian nhưng bước đầu, Nguyễn Đổng Chi đã định hình một mối quan hệ vững bền không thể tách rời giữa văn học dân gian và tín ngưỡng, phong tục cũng như “đóng một dấu” về tính địa phương của tác phẩm văn học dân gian. Văn học dân gian chính “là sự tự ý thức văn hoá, vì vậy, một nguyên lí hết sức quan trọng là, trước khi tìm mã tín ngưỡng trong văn học dân gian phải hiểu bản thân tín ngưỡng đó như một thực thể văn hoá, những biểu hiện của nó trong thực hành văn hoá truyền thống. Từ đó mới có cơ sở để tìm sự thể hiện nó trong văn học dân gian” [97].
Như vậy, tín ngưỡng là: Một bộ phận của đời sống văn hóa tinh thần con người mà ở đó con người cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể, lực lượng siêu nhiên, mà những cái đó chi phối, khống chế con người, nó nằm ngoài giới hạn hiểu biết của con người hiện tại; sự tồn tại của các phương tiện biểu trưng giúp con người thông quan với các thực thể, các sức mạnh siêu nhiên đó; đó là chất kết dính, tập hợp con người thành một cộng đồng nhất định và phân định với cộng đồng khác. Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ [75, tr. 20 Hiểu một cách nôm na, tín ngưỡng là “niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người” [97]. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân.
Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng. Con đường đi từ tín ngưỡng dân gian đến văn học dân gian phải qua một khâu trung gian. Vì thực chất, tín ngưỡng được thể hiện trong văn học dân gian thường không ở dạng nguyên mẫu của nó mà đã chuyển thành các biểu tượng. Nhiệm vụ của người nghiên cứu là nhận chân các biểu tượng đó như một cách giải mã nhằm chứng minh sự gắn kết giữa tín ngưỡng và văn học dân gian.
Nguyễn Thị Bích Hà cho rằng: “Với tín ngưỡng dân gian văn học dân gian vừa là nơi ẩn chứa, thẩm thấu các tín ngưỡng dân gian vừa thể hiện sự khác biệt đến đối lập với tín ngưỡng dân gian đó” [97]. Theo tác giả nhìn nhận thì mối quan hệ giữa tín ngưỡng và văn học dân gian là mối quan hệ hai chiều, có cả chiều thuận và chiều ngược. Theo chiều thuận thì “truyện kể làm xương cốt, bệ đứng, chỗ dựa cho niềm tin, còn niềm tin cùng những hành động nghi lễ hội hè tưởng niệm, làm sống động, phong phú hơn nội dung truyện kể”. Tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam có sự trọng mẫu, đề cao, suy tôn nữ tính và người mẹ.
Từ đó hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu. Sở dĩ niềm tín ngưỡng trọng Mẫu có sức sống lâu bền trong lòng dân tộc, là do những câu chuyện dân gian được sáng tác và lưu truyền rộng rãi, phủ lên các Mẫu vầng hào quang huyền thoại linh thiêng. Theo chiều ngược thì tín ngưỡng là niềm tin tuyệt đối, không cần lí giải, không có sự lựa chọn nào khác ngoài đấng siêu nhiên huyền bí mà họ gửi gắm niềm tin, còn trong văn học dân gian, con người không chỉ thể hiện thái độ ngưỡng mộ đối với lực lượng và sức mạnh siêu nhiên huyền bí đó mà còn 21 thể hiện cả khát vọng muốn vươn lên khám phá bí ẩn của siêu nhiên, tự nhiên và chinh phục thế giới đó. Con người có thể bất lực trước thế giới siêu nhiên trong thực tế nhưng họ đã chiến thắng các lực lượng và sức mạnh siêu nhiên to lớn và đầy bí ẩn đó trong mơ ước, trong khát vọng vĩ đại của mình và thể hiện điều đó trong văn học dân gian.
Tín ngưỡng và sự thể hiện tín ngưỡng trong văn học dân gian không hoàn toàn trùng khớp với nhau. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai thực thể này thì không thể chối cãi được, tín ngưỡng chính là cơ sở, là khí trời, hơi thở của văn học dân gian, còn văn học dân gian chính là nơi lưu giữ lâu dài, làm cho tín ngưỡng được lí giải, tạo nên xương cốt cho tín ngưỡng [97]. Tín ngưỡng ẩn tàng trong nhiều thể loại văn học dân gian, nhưng chủ yếu là trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết và được thể hiện thông qua các nghi lễ, hội lễ tưởng niệm những người anh hùng truyền thuyết, làm sinh động hơn và minh chứng cho sự xác thực của truyền thuyết, nhưng nhiều khi cũng không hề liên quan đến nhân vật truyền thuyết. Vì vậy, không phải bất cứ tín ngưỡng nào cũng được đi vào văn học dân gian và được “đồ chiếu” trong văn học dân gian như nó vốn có.
Tiếp tục lý giải mối quan hệ giữa văn học dân gian và tín ngưỡng, Bùi Quang Thanh cũng có những luận giải xác đáng, mặc dù phạm vi chỉ tập trung vào thể loại truyền thuyết và tín ngưỡng Thành hoàng. Ông cho rằng, “một khi môi trường sống được mở rộng và quan hệ xã hội được phức tạp dần, thì nhu cầu duy trì, củng cố và lãnh đạo khối thống nhất của cộng đồng không thể nào khác được. Từ đó nảy sinh ra tín ngưỡng thành hoàng nhằm thực hiện chức năng xã hội thiết yếu ấy. Hầu như các nhân vật trong truyền thuyết đều được lựa chọn sàng lọc đã trở thành thần thành hoàng – cốt lũy tinh thần – của cộng đồng làng xã.