Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về văn hóa và văn hóa tổ chức: khái niệm, đặc điểm, vai trò của văn hóa tổ chức; các khía cạnh của văn hóa tổ chức; xây dựng văn hóa tổ chức. Tổ chức và văn hóa tổ chức[1] 1. Khái niệm và phân loại tổ chức 1. Khái niệm Từ xã hội sơ khai đến xã hội hiện đại tổ chức là một yếu tố cần thiết của xã hội loài người, Tổ chức thực hiện được những việc mà các cá nhân không thể làm được.Tổ chức là tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được mục đích chung.
Các tổ chức tồn tại trong xã hội vô cùng phong phú và đa dạng. Có nhiều loại hình tổ chức khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại (theo sở hữu, theo mục đích, theo sản phẩm, theo mối quan hệ.) Theo nghĩa chung nhất: Tổ chức là một tập hợp gồm nhiều người cùng làm việc với nhau + Có những quan hệ ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau. + Tuân theo những nguyên tắc, quy chế hay thể chế xác định. Đặc trưng chung của tổ chức Mọi tổ chức đều mang tính mục đích: Tổ chức hiếm khi mang trong mình mục đích tự thân mà là công cụ thực hiện những mục đích nhất định.
Các tổ chức khác nhau có mục đích khác nhau, nhưng không có mục đích thì tổ chức không tồn tại Mọi tổ chức đều là những đơn vị XH bao gồm nhiều người. Những người đó + Có chức năng nhất định trong hoạt động của tổ chức. + Có quan hệ với nhau trong những hình thái cơ cấu nhất định. e 8 Mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt được mục đích – các kế hoạch.
Thiếu kế hoạch xác định những điều cần phải làm để thực hiện mục đích, không tổ chức nào có thể tồn tại và phát triển có hiệu quả. Mọi tổ chức đều phải thu hút và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục đích của mình. Các tổ chức bất kỳ vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận, lớn hay nhỏ, đều sử dụng 4 nguồn lực chủ yếu - Nhân lực - Tài lực - Vật lực - Thông tin Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức khác Mọi tổ chức đều cần những người quản trị, chịu trách nhiệm liên kết, phối hợp những con người bên trong và bên ngoài tổ chức cùng nguồn lực khác để đạt được mục đích với hiệu quả cao. Vai trò của những người quản trị có thể rõ nét ở tổ chức này nhưng lại thiếu ở tổ chức khác, nên họ có thể gặp lúng túng trong hoạt động.
Phân loại Có rất nhiều quan điểm khác nhau trong phân loại các tổ chức có thể kể đến một số cách phân loại cơ bản như sau: (i) Tổ chức công và tổ chức tư: Theo những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm về tổ chức công và tổ chức tư rất đa dạng. Theo chế độ sở hữu + Tổ chức công là tổ chức thuộc quyền sở hữu của Nhà nước hoặc không có chủ sở hữu. Đó chính là các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các trường học và bệnh viện công, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp. + Tổ chức tư là tổ chức thuộc sở hữu tư nhân (của một hay một nhóm người).
Đó có thể là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp e 9 danh, hợp tác xã, trang trại, hộ kinh doanh cá thể, hộ nông dân, trường học tư, bệnh viện tư. Theo sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức tạo ra + Tổ chức công là tổ chức tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công - những sản phẩm, dịch vụ mà người sử dụng không phải cạnh tranh và loại trừ nhau để có quyền sử dụng. + Tổ chức tư là tổ chức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ tư. (ii) Tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận Theo mục tiêu cơ bản, các tổ chức được phân ra thành tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận.
+ Tổ chức vì lợi nhuận là tổ chức tồn tại chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận. Yếu tố được quan tâm nhất ở các tổ chức này là bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ các khoản đầu tư và lợi ích của các chủ sở hữu được thỏa mãn như thế nào. Đó chính là các doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể. + Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức tồn tại để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cộng đồng.
Đó là các cơ quan nhà nước, các tổ chức công ích, các tổ chức chính trị, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các viện bảo tàng. Tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức này không phải là lợi nhuận. (iii) Tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức Theo tính chất của các mối quan hệ, các tổ chức được chia làm tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức. + Tổ chức chính thức thường được hiểu với một số đặc trưng cơ bản.
Thứ nhất, là tổ chức mà trong đó mọi thành viên của nó đều được xác định một cách rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm. Thứ hai, là tổ chức mà cơ cấu có thể được hiển thị thông qua một sơ đồ cơ cấu với các mối liên hệ rõ ràng. Thứ ba, là tổ chức có thể cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho khách hàng của mình trong khuôn khổ pháp luật. + Tổ chức phi chính thức không mang những đặc trưng kể trên.
Điển hình của tổ chức phi chính thức có thể kể đến những nhóm được hình thành thông qua các mối e 10 quan hệ cá nhân, tồn tại trong tổ chức chính thức do cùng chung nguyện vọng, sở thích, quan điểm, tư tưởng. Khái niệm văn hóa tổ chức Văn hoá là một khái niệm có nhiều định nghĩa bởi góc nhìn, cách tiếp cận và ý kiến khác nhau trên nhiều lĩnh vực.[1] Hiện nay khái niệm văn hoá đang được sử dụng cũng vẫn chỉ có tính chất quy ước, nhằm đi đến một khái niệm có tính chất thoả thuận để tiện sử dụng, bởi vì mới chỉ đi được những bước đầu tiên tới cách hiểu đúng và định nghĩa đúng thế nào là văn hoá. Khái quát chung, có thể hiểu “Văn hoá là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
Có thể nói văn hoá là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó. Văn hoá là một hệ thống được định hình và phát triển trong quá trình lịch sử, bao gồm nhiều yếu tố hợp thành như hệ giá trị, tập quán, thói quen, lối ứng xử, các chuẩn mực xã hội; nó mang tính ổn định bền vững và có khả năng di truyền qua nhiều thế hệ. Trong mỗi tổ chức đều tồn tại những hệ thống hay chuẩn mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được tổ chức tôn trọng và truyền từ người này sang người khác, thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa tổ chức (VHTC) được hiểu là các giá trị, ý nghĩa, niềm tin, những hiểu biết và các tiêu chuẩn chung về văn hóa ứng xử của mọi thành viên trong một tổ chức.
VHTC là yếu tố rất quan trọng và được chú ý nhiều trong các tổ chức. Các yếu tố văn hóa có thể không nhất thiết và cũng không cần thiết biểu hiện thành văn, nhưng lại tạo ra mối quan hệ và ràng buộc nhau rất chặt chẽ giữa các thành viên trong tổ chức e 11 Tóm lại, Văn hóa tổ chức được phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong quá trình liên hệ, tác động qua lại và có quan hệ, như một giải pháp cho những vấn đề mà môi trường bên trong và bên ngoài đặt ra cho tổ chức. Văn hóa tổ chức thể hiện được những nhu cầu, mục đích và phương hướng hoạt động, tạo cho tổ chức có được màu sắc riêng. Nó là cơ sở của toàn bộ chủ trương, biện pháp cụ thể trong việc hoạt động, sản xuất kinh doanh của tổ chức, chi phối kết quả hoạt động của tổ chức.
Đặc điểm văn hóa tổ chức [8], [10] Khi nói đến văn hóa tổ chức hay văn hóa của một tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn giá trị, niềm tin, cách ứng xử. được thể hiện qua thái độ, hành vi của các thành viên liên kết với nhau để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Đặc điểm của một tổ chức được thể hiện trong hoàn cảnh cụ thể chịu tác động từ những ảnh hưởng của hệ thống tổ chức và hoạt động lãnh đạo trong việc hoàn thiện nhân cách con người. Với những đặc điểm này, văn hóa tổ chức đóng vai trò gắn kết các thành viên, tạo nên sự ổn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác, tự nguyện.
Các yếu tố văn hóa được chọn lọc có vai trò như một cơ chế khẳng định giá trị của tổ chức, hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, giữa cá nhân với tổ chức, giữa thành viên với lãnh đạo. Xét từ góc độ phát triển tổ chức, có thể thấy phương pháp phát triển tổ chức là một trong các phương pháp hình thành văn hoá tổ chức với nhiệm vụ là tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các bộ phận và các thành viên riêng biệt của tổ chức, hợp lý hóa cơ cấu, các quy tắc và chuẩn mực hoạt động của tổ chức. Vai trò của văn hóa tổ chức 1. Văn hóa tổ chức là nguồn lực và cách thức phát triển lâu dài, bền vững Giữa văn hóa và hoạt động sản xuất, kinh doanh có mối quan hệ biện chứng và hữu cơ với nhau.
Nhân tố văn hóa có thể mạnh, yếu, nhiều hay ít trong sản xuất, e 12 kinh doanh là tùy thuộc vào các tổ chức cụ thể, tùy thuộc vào sự nhận thức của họ về vai trò quan trọng của văn hóa.