phần Mở đầu, Kết luân, Tà iệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luân văn gồm 3 chương như sau: “Chương l: Khái quát lộc người và dân ca người Dao đỏ ở huyện `Văn Yên, tình Yên Bái “Chương 2: Những đặc điểm của dân ca tộc người Dao đỏ ở huyện Văn `Yên, tỉnh Yên Bái “Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tổn, phát huy dân ca tộc người Dao đỏ ở huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Chương1 KHÁI QUÁT VÈ TỘC NGƯỜI VÀ DÂN CA NGƯ? DAO DO 'Ở HUYỆN VĂN YÊN, TINH YEN BAT 1. Tậc người Dao đổ ở huyện Văn Yên LLL. De diém địa ý, tự nhiên 'Văn Yên là một huyện miễn núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Yên Bái với diện tích tự nhiên là 1.23 km, phía Nam giáp với huyện Trấn Yên, phía Dang giáp với huyện Lục Yên và Yên Bình, phía Tây giáp với Văn Chấn và Mũ Cang Chải,pÌ Bắc giáp với Văn Bản và Bảo Yên (nh Lào Cai), Văn `Yên từ lầu được biết đến là vùng đất trà phú, nguồn nước dồi dào, cây cối tốt "vơi quanh năm lại chịu khí hậu nhiệt đối ẩm, gió mùa, độ ẩm cao. Địa hình ở đây được chia làm 3 loại: địa hình núi cao ở thượng huyện, địa hình nú thấp đồi bất áp ở giữa, địa hình thung lãng và sông ngồi ở khu vục sông hồng và sui thi.
Với vĩ í cách trung tâm tính ly 40 km, cách thủ đồ Hà Nội hơn 200 kem, cách thình phổ Lâo Cai 140 ke, huyện Văn Yên có hệ thông ito thông vận ti thuận iện về đường, ð,đường sắt và đường thuỷ, Huyện Văn Yên có 26 xã và một thị trần với 312 khu phố, thôn bản, dân số 114235 người, mặt độ dân số 82 ngườilkmÌ; huyện Văn Yên có 11 dân tộc, rong đồ dân tộc Kin chiém 62%, din te Dao chim 19%, din We Tày chiếm 14% côn lại là các dân tộc khác, Mỗi dân tộc đều có những đặc trưng văn hóa riêng, đặc biệt à hình thức đân ca, dân vũ với nghệ thật biểu diễn đạt đến đình cao như hòa tấu khèn bÈ của người H"Mông, hát lượn của người Tây, 18 Cấp sắc của người Dao -lễ này vừa mang tỉnh phong tục vừa có ý nghĩa nhân văn su sắc vì nó đánh dầu một giai đoạn trưởng thình cũa một đời người. tất cả tạo cho Văn Yên một bức tranh văn hóa vô cùng phong phú đâm đà mẫu sắc văn hóa dân tộc. Đặc trưng về tộc người "Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, họ từ các tỉnh Phúc Kiến “Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam di cự vào Việt Nam. Quá tình dĩ cư của "họ vào Việt Nam trải qua nhiễu thờ kỳ và trong một thời gian đãi.
Người Dao ‘vio khoảng từ thể kỹ XI, cho tới đầu thể kỷ XX, với nhiều nhóm người, bằng nhiề con đường bộ, (hủy khác nhan Trong các dân tộc anh em sinh sống ở Yên Bái, người Dao là đân tộc 6 din số khá đông, hiện nay có khoảng 62 000 người, chiếm 9,1% dân số toàn tính, Địa bản cư trú của người Dao chủ yếu ở rẻ giữa - vùng tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao. Người Dao sống tập trung đông nhất ở huyện ‘Van Yên, chị đến hơn 30% tổng số người Dao ở Yên Bái, sau đồ đến các huyện Yên Bình, Lục Yên, Văn Chắn và Trần Yên Người Dao có nhiều tên gọi khác nhau như: người Động, người Xã, "người Mân. nhưng Dao là tên gọi chính thúc. Chính người Dao tự gọi mình là "Kiểm miễn" (ức là người ở rừng) "Người Dao hiện sinh sống ở tỉnh Yên Bái có 4 nhóm chính là: Dao Đỏ (cin gợi là Dao Sũng, Dao Cóc Ngắng, Dao Đại Bản), Dao Quin Chet (cin ọi là Dao Nga Hoàng, Dao Sơn Đâu), Dao Quân Trắng và Dao Làn Tuyến (cồn gọi là Dao Tuyển), Để phân biệt các nhóm Dao, chủ yến đựa vào sự khác nhau trong bộ trang phục của phụ nữ.
Phụ nữ Dao đỏ có đặc điểm dễ nhận thấy là đùng rắ nhiều màu đỏ, nhiễu tua và núm bông đỏ. Trong đám cưới hay trong lễ cúng Bản Vương, phụ nữ Dao đỏ đội mỗ rất to có khung gỗ hay an te nứa bẻ thành hai góc nhọn nhô ra phía trước mặt. Bên ngoài phủ ví đổ hay khăn thêu. Phụ nữ Dao Quần Chẹt mặc quần ống hẹp bổ sát vào chân Trước đây phụ nữ nhóm Dao Quân Trắng có đặc điểm nôi bật yếm rất to che kín cả ngực và bụng.
Tên gọi Dao Quần Trắng bắt nguồn từ phong tục trong ễ cưới phải mặc quản trắng. Người Dao Lan Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đầu gổ (Các nhôm Dao cũng có sự khác nhau ít nhiều về tiếng nói song đều thuộc nhóm ngôn ngữ H"Mông - Dao (đồng ngôn ngữ Nam Á). Mặc đồ cổ tên soi, trang phục, tiếng nối có một số điểm khác nhau nhưng tắt ã các nhóm Dao đều có chúng một nguồn gốc và cũng thờ ông tổ Bàn Vương. Cho đến nay trong cộng đồng người Dao vẫ lưu truyền câu chuyện Bản Hồ, được ghi lại rất rõ rằng trong một số cuốn Quả sơn bảng.
Huyện Văn Yên là địa bản có nhiều ngành Dao và người Dao cư trí đông nhất so với các địa phương khác trong tỉnh Yên Bái, chiém da sb là người Tạo đỏ, Địa bản cư trú chỗ yếu của người Dao đổ ở Văn Yên là vũng núi thấp và cư trú thành lãng, thôn, xóm tập trung, mỗi thôn chỉ có vải nó nhà. Trước ia đồng bào cư trú phân tân dọc theo các con suỗi thành các bản riêng biệt, Xhoảng cách giữa các nhà thưa thớt vì phải chạy theo nương tẫy. Người Dao đổ sống tập trung đông nhất ở các xã Mõ Vàng, Viễn Sơn, Đại Sơn, Thôn nay đã định cư, nhà cửa thiết lập trên sườn đi, gằn su nước hay 1-3. Các giá ị văn hóa vật thể tiêu biẫu 13, NhàZ "Nhà của người Dao dé ở huyện Văn Yên cũng giỗng như nhà của người ao do ở nhiều nơi khác là kiểu nhà đất, nhà hình chữ nhật thường có hai "mái, trong nhà có từ 3 đến S gian, Nguyên liệu lâm nhà thường kiếm tại chỗ, chủ yếu là cây rừng.
Phân gian nhả bên phải dành đặt giường ngủ của khách, buông ngủ của chủ nhà đặt ở phía bên phải gần bản thờ, giường ngủ của con. trai thường đặt ở sau giường của khích, còn giường ngủ của con gái thường dở phía trong gin bép. Ban thờ được đặt ở gian giữa, nhà thường có bai bếp (một bếp ở gian ngoài để sưở im vào mùa đông đành cho din ông và khi có. khách đến, một bếp để nấu ăn và cám lợn).
Nhà của người Dao đều theo, một nguyễn tác: bắp là nơi tập của cả gi đình, là nơi rộng nhất tong nhà "Người Dao sử dụng hơi ấm của bếp và cả khối bắp để chẳng âm, chẳng mắc, chống sâu bọ, ruổi, muỗi. bếp lửa cháy cả ngày, Nhà của họ e6 cửa ra vào, đặc bit là cửa sổ, Loại nhà nề đất của người Dao đỏ ở đầy vẫn là loi nhà có tính chất ôn định ở miễn núi cao, và đây là loï nhà ổng hợp, bếp, chuồng gia súc, các công cụ sản xuất và sinh hoạt đều thuộc phạm vỉ nhà ở 113.2, Trang phue “Trang phục của mỗi ngành Dao đều có sự khác biệt rất rõ và đó cũng là căn cứ để gọi tên cho các ngành Dao. Chẳng hạn, tên của ngành Dao hay Mán ‘Thanh Y được dựa đặc điểm màu xanh chủ đạo cũa trang phục. Ngành Dao ‘Quin Chợ là dựa vào đặc thù quần của nữ giới được may bó ắt vào đồi, bắp chin vin xà cạp, Đối với người Dao ở huyện Văn Yên, đa số thuộc ngành Dao Dai Bản nhưng trang phục của nữ giới được tao điểm nhắn bằng những gam màu đô của vải hoặc ơi trên nền vải đen nên còn được goi là Dao đô.
kiêng với trang phục của cô dâu người Dao đỏ th chỉ cần chiếc mũ cũng đã chiêm tới hơn nửa mau d6 trong tông thê của cả bộ trang phục. Kết cấu bộ trang phụe tuyển thống của người Dao đó ở Văn Yên được thể hiện bằng các đặc điểm nhận diện như: đổi với nam giới không có gì khác biệ lắm so với tang phục nam giới trongcác ngành Dao et 1g nhu trang phục ‘nam giới của một số dân tộc khác, Dân ông Dao đỏ thường đội mỗ nỗi hoặc vấn khăn đài như một chiếc mũ rộng vành, áo chim được may the lỗi cổ Xhoanh bí, áo dài gin trùm mông, vạt áo may thẳng có cải khuy lon đọc từ "ngực xuống bung, sau lưng áo có miếng vải hoa văn hình bùa chú nhằm chỗ lại sự tấn công của thú dữ, ma quý làm ai từ phía sau. Một loi áo Khác được may ngẫn qua thất lưng một chú, vạt cải khuy lộn từ nách trở xuống. Quần của đân ông là quần thụng vải đen, may kiểu chin qué bé dng đài gần chạm cổ chân vả cạp quân luôn dây rút bằng sợi vải hoặc sợi gai.
Trang phục của nữ giới thường được may công phu hơn và gồm có các bộ phận: khăn, áo, thất lưng, quần, xà cạp. Khăn là một băng vải màu đen khá dải và khi vấn thì một đầu khăn được áp vàotóc, di sản lại được vẫn quanh đầu thành thập nhịn, sau d vất đuôi khăn qua định đầu buông dải ngang lưng Áo phụ nữ thường may đài gần ngang mông và phản cổ cũng được viền những băng vải hoa văn màu đô tring rit dep và vạt áo bên phải là vạt bên trong có cúc bắm vào phía trong của vạt ngoài (vạt tri) rồi kéo vạt trái sung ấm vào hàng cúc dọc hạ theo sườn phải. Hai bên cổ áo thường được đính những chim sợi màu đô buông đãi xuống bụng. Sau lưng áo của nữ giới cũng cỗ một mãng hoa văn có hình bùa chú.
“Quần của phụ nữ Dao đồ được mấy theo kiểu quẫn bổ đũng, đũng rộng nhưng ống quần may thuôn, bó dẫn xuống phía gấu và quần chỉ dải gần tới mắt cá chân, gẫu quẫn rất to được làm bằng một băng vải hoa văn và ống chân được quin xa cap.