Luận văn: Vận dụng Thuyết Trí Thông Minh Đa Dạng của Gardner nâng cao hiệu quả học Toán trẻ 5-6 tuổi

Vận dụng thuyết thông minh đa dạng Gardner trong dạy Toán cho trẻ 5-6 tuổi. Khám phá phương pháp giáo dục hiệu quả nâng cao kỹ năng toán học của trẻ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

246
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thuyết trí thông minh đa dạng của Gardner và học toán trẻ 5 6 tuổi

Thuyết trí thông minh đa dạng của Howard Gardner được công bố năm 1983 trong tác phẩm 'Frames of Mind'. Thuyết này xác định trí thông minh không chỉ đo lường bằng chỉ số IQ mà bao gồm nhiều loại khác nhau. Gardner ban đầu đề xuất bảy loại trí thông minh, sau đó bổ sung thêm. Bảy loại ban đầu gồm: logic-toán học, ngôn ngữ, không gian-hình ảnh, cơ thể-vận động, âm nhạc, tương tác cá nhân và nội tâm. Học toán ở trẻ 5-6 tuổi là quá trình hình thành các khái niệm số học cơ bản, nhận biết hình dạng, so sánh đại lượng và giải quyết vấn đề đơn giản. Giai đoạn này trẻ phát triển mạnh về tư duy trực quan-hình tượng. Việc kết hợp thuyết trí thông minh đa dạng vào dạy toán giúp giáo viên khai thác thế mạnh riêng của từng trẻ. Phương pháp này tạo môi trường học tập đa giác quan, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý lứa tuổi mầm non. Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Thủy (2018) tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã chứng minh hiệu quả của việc vận dụng thuyết này vào dạy toán cho trẻ mẫu giáo lớn.

1.1. Bảy loại trí thông minh theo Gardner

Trí thông minh Logic-Toán học liên quan đến khả năng suy luận, nhận biết mô hình và giải quyết vấn đề bằng con số. Trí thông minh Ngôn ngữ bao gồm khả năng sử dụng từ ngữ để diễn đạt và ghi nhớ. Trí thông minh Không gian-Hình ảnh thể hiện qua khả năng tư duy bằng hình ảnh và định hướng trong không gian. Trí thông minh Cơ thể-Vận động liên quan đến việc sử dụng cơ thể để giải quyết vấn đề. Trí thông minh Âm nhạc nhạy cảm với giai điệu, nhịp điệu. Trí thông minh Tương tác cá nhân là khả năng thấu hiểu người khác. Trí thông minh Nội tâm là khả năng tự nhận thức bản thân.

1.2. Đặc điểm học toán của trẻ 5 6 tuổi

Trẻ 5-6 tuổi处于 giai đoạn phát triển tư duy trực quan-hình tượng theo lý thuyết Piaget. Khả năng tập trung chú ý của trẻ kéo dài khoảng 15-20 phút. Trẻ tiếp thu kiến thức toán học chủ yếu qua hoạt động vui chơi, thao tác trực tiếp với đồ vật. Chương trình giáo dục mầm non yêu cầu trẻ làm quen với số đếm đến 10, nhận biết hình vuông, hình tròn, hình tam giác, so sánh dài-ngắn, nặng-nhẹ. Trẻ ở độ tuổi này có nhu cầu vận động cao, thích khám phá qua các giác quan. Phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm là phù hợp nhất, trong đó giáo viên đóng vai trò hướng dẫn và tổ chức hoạt động.

II. Phân tích thực trạng áp dụng thuyết Gardner trong dạy học toán ở trẻ mầm non

Thực tế giảng dạy toán ở các trường mầm non tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy nhiều hạn chế trong việc áp dụng phương pháp đa dạng. Phần lớn giáo viên vẫn sử dụng phương pháp truyền thống, chủ yếu dựa vào trí thông minh ngôn ngữ và logic-toán học. Trẻ được yêu cầu ghi nhớ số đếm, viết số và thực hiện các phép tính đơn giản qua nghe giảng và lặp lại. Cách tiếp cận này bỏ qua thế mạnh của nhiều trẻ sở hữu trí thông minh khác như vận động, âm nhạc hoặc không gian. Kết quả khảo sát tại các trường mầm non Quận 1, Quận 8, Quận 10, Bình Thạnh và Gò Vấp cho thấy nhiều trẻ tỏ ra chán nản, không hứng thú với giờ học toán. Một số trẻ có năng khiếu đặc biệt nhưng không được phát hiện và bồi dưỡng. Giáo viên thiếu kiến thức về thuyết trí thông minh đa dạng và chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học phân hóa. Cơ sở vật chất và đồ dùng học tập còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động đa dạng cho trẻ.

2.1. Hạn chế trong phương pháp giảng dạy toán hiện tại

Phương pháp dạy toán truyền thống tập trung vào ghi nhớ và lặp lại. Giáo viên thường đứng lớp giảng bài, trẻ ngồi nghe và thực hiện theo hướng dẫn. Hoạt động chủ yếu dựa vào bảng, giấy và bút chì. Cách tiếp cận này chỉ phù hợp với trẻ có trí thông minh ngôn ngữ và logic-toán học phát triển. Các trẻ sở hữu trí thông minh vận động, âm nhạc hoặc không gian bị thiệt thòi. Giáo viên ít sử dụng trò chơi, bài hát, hoạt động nhóm hoặc thao tác trực tiếp với đồ vật. Chương trình giảng dạy chưa linh hoạt, khó đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của từng trẻ trong lớp đông.

2.2. Khó khăn của giáo viên trong việc áp dụng lý thuyết mới

Nhiều giáo viên mầm non chưa được tiếp cận đầy đủ nội dung thuyết trí thông minh đa dạng. Khóa đào tạo bồi dưỡng chuyên môn thường tập trung vào kỹ năng giảng dạy cơ bản, chưa đề cập sâu đến lý thuyết Gardner. Giáo viên gặp khó khăn trong việc nhận diện loại trí thông minh nổi trội của từng trẻ. Thời gian chuẩn bị bài giảng theo hướng đa dạng hóa đòi hỏi nhiều công sức hơn so với phương pháp truyền thống. Số lượng trẻ trong mỗi lớp đông, thường từ 25-35 trẻ, gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động cá nhân hóa. Đánh giá kết quả học tập theo hướng đa trí thông minh cũng phức tạp hơn so với đánh giá truyền thống.

III. Giải pháp vận dụng thuyết trí thông minh đa dạng để nâng cao hiệu quả học toán

Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Thủy (2018) đề xuất phương án thử nghiệm gồm nhiều hoạt động dạy toán tích hợp bảy loại trí thông minh. Đối với trí thông minh logic-toán học, trẻ tham gia các trò chơi phân loại, sắp xếp theo quy luật và giải câu đố số. Trí thông minh ngôn ngữ được khai thác qua việc trẻ kể chuyện liên quan đến số học, đọc thơ về hình khối. Hoạt động xếp hình, lắp ráp và vẽ tranh toán học phát triển trí thông minh không gian. Trẻ vận động trí thông minh cơ thể qua các trò chơi nhảy vào ô số, di chuyển theo hình dạng. Bài hát về số đếm và nhịp điệu khai thác trí thông minh âm nhạc. Hoạt động nhóm hợp tác phát triển trí thông minh tương tác cá nhân. Nhật ký học tập và tự đánh giá giúp phát triển trí thông minh nội tâm. Phương án này được áp dụng tại trường Mầm non M.I Quận 10 với kết quả tích cực. Trẻ hứng thú hơn, hiểu bài sâu hơn và ghi nhớ kiến thức lâu hơn so với phương pháp truyền thống.

3.1. Thiết kế hoạt động toán tích hợp đa trí thông minh

Mỗi bài học toán được thiết kế với nhiều hoạt động khác nhau tương ứng các loại trí thông minh. Bài học về số 5 có thể bắt đầu bằng bài hát đếm đến 5 (âm nhạc). Trẻ sau đó xếp 5 viên bi thành các nhóm khác nhau (logic). Hoạt động tiếp theo yêu cầu trẻ mô tả bằng lời những gì quan sát được (ngôn ngữ). Trẻ vẽ 5 đồ vật yêu thích (không gian). Nhảy 5 lần theo nhịp (vận động). Thảo luận nhóm về cách tìm số 5 trong đời sống (tương tác cá nhân). Cuối cùng trẻ tự nhận xét hoạt động nào thích nhất (nội tâm). Cách thiết kế này đảm bảo mọi trẻ đều có cơ hội thể hiện thế mạnh.

3.2. Tổ chức môi trường học tập và đánh giá đa chiều

Môi trường lớp học cần được bố trí thành nhiều góc hoạt động khác nhau. Góc toán học với đồ chơi lắp ráp, xếp hình và thẻ số. Góc âm nhạc với nhạc cụ đơn giản và bài hát toán học. Góc vận động với không gian rộng cho trò chơi di chuyển. Góc nghệ thuật với dụng cụ vẽ và tạo hình. Giáo viên đóng vai trò quan sát, hướng dẫn và khuyến khích trẻ tham gia. Đánh giá kết quả học tập cần đa chiều, không chỉ dựa vào kết quả cuối cùng mà còn đánh giá quá trình tham gia. Giáo viên sử dụng phiếu quan sát, portfolio sản phẩm và nhận xét bằng hình ảnh. Phụ huynh được hướng dẫn cách hỗ trợ con học toán tại nhà theo hướng đa trí thông minh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của thuyết Gardner trong giáo dục mầm non

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc vận dụng thuyết trí thông minh đa dạng của Gardner mang lại hiệu quả rõ rệt trong dạy học toán cho trẻ 5-6 tuổi. Trẻ tham gia phương án thử nghiệm có kết quả học tập cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động và thể hiện sự hiểu biết sâu hơn về kiến thức toán học. Đặc biệt, trẻ có trí thông minh nổi trội ở lĩnh vực khác ngoài logic-toán học vẫn đạt kết quả tốt khi được khai thác đúng thế mạnh. Nghiên cứu xác nhận rằng mỗi trẻ đều có cách tiếp cận kiến thức riêng biệt. Giáo viên cần nhận diện và tôn trọng sự đa dạng này.Ứng dụng thực tiễn yêu cầu sự thay đổi trong đào tạo giáo viên mầm non. Các trường sư phạm cần đưa nội dung thuyết Gardner vào chương trình đào tạo. Sở Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức tập huấn chuyên đề cho giáo viên đang công tác. Phụ huynh cũng cần được tuyên truyền để phối hợp với nhà trường trong việc hỗ trợ con học toán hiệu quả.

4.1. Kết quả đạt được từ nghiên cứu thực nghiệm

Phương án thử nghiệm được thực hiện tại trường Mầm non M.I Quận 10 TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy trẻ ở nhóm thực nghiệm có điểm đánh giá toán học cao hơn nhóm đối chứng. Trẻ thể hiện khả năng nhận biết số, đếm, so sánh và phân loại tốt hơn. Thời gian tập trung chú ý của trẻ kéo dài hơn khi tham gia hoạt động đa dạng. Trẻ ít biểu hiện chán nản, mệt mỏi trong giờ học toán. Giáo viên nhận xét trẻ hợp tác tốt hơn trong hoạt động nhóm. Phụ huynh phản hồi con hào hứng kể về giờ học toán ở trường. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu quốc tế về áp dụng lý thuyết Gardner trong giáo dục mầm non.

4.2. Khuyến nghị cho thực tiễn giáo dục mầm non

Để áp dụng rộng rãi thuyết trí thông minh đa dạng, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, cập nhật chương trình đào tạo giáo viên mầm non, bổ sung kiến thức về lý thuyết Gardner và phương pháp thiết kế hoạt động đa trí thông minh. Thứ hai, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên đang công tác. Thứ ba, đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng học tập đa dạng phục vụ hoạt động học tập trải nghiệm. Thứ tư, xây dựng hệ thống đánh giá trẻ theo hướng đa chiều, không chỉ tập trung vào kết quả mà đánh giá cả quá trình. Thứ năm, tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc nhận diện và phát triển thế mạnh trí thông minh của trẻ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ vận dụng thuyết trí thông minh đa dạng của gardner để nâng cao hiệu quả của việc học toán ở trẻ 56 tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Thuyết TTMĐD và vận dụng vào dạy học cho trẻ mầm non. Chương 2: Thực trạng dạy Toán cho trẻ 5-6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh theo tinh thần lấy trẻ làm trung tâm và ứng dụng thuyết TTMĐD. Chương 3: Xây dựng và thử nghiệm phương án vận dụng thuyết TTMĐD vào dạy trẻ 5-6 tuổi làm quen với Toán. Đóng góp của luận văn Đề tài đề xuất cho giáo viên cách triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non theo xu hướng đổi mới bằng việc xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động làm quen với Toán dựa vào cấu trúc trí thông minh của trẻ (các loại hình nổi trội và ít nổi trội) theo hướng cá nhân hóa nhằm kích thích tính tích cực của trẻ trong học tập, hỗ trợ việc học cũng như phát huy tối đa tiềm năng của trẻ để nâng cao hiệu quả của việc học Toán và đồng thời có thể xem đây là một phương án cho việc phát triển Chương trình tại cơ sở giáo dục mầm non.

THUYẾT TRÍ THÔNG MINH ĐA DẠNG VÀ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC CHO TRẺ MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trí thông minh luôn là đề tài thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới. Trong thế kỷ XX đã có những cột mốc nổi bật về nghiên cứu trí thông minh như sau: Năm 1912, nhà triết học và tâm lý học người Đức Stein cho ra đời thuật ngữ IQ (Intelligence Quotient).

Ông đã sử dụng thương số giữa tuổi trí tuệ (Mental Age-phản ánh mức độ phát triển của một người) với tuổi sinh học (Choronological-tuổi thực tế của người đó) để tính toán sự phát triển trí thông minh của một cá nhân [42], [47]. Trước đó, năm 1904, nhà tâm lý học người Pháp Binet chuyên nghiên cứu tâm lý trẻ em cùng với Simon đã nghiên cứu thành công phương pháp nhận diện và đánh giá trí thông minh của học sinh bao gồm những kiểm tra đo nghiệm trí thông minh đầu tiên nhằm lọc ra các trẻ em chậm phát triển và đưa những em còn lại vào lớp học đúng trình độ [7, tr. Năm 1916, nhà tâm lý học của trường Đại học Stanford là Terman đã hoàn thiện bảng test của Binet để tạo nên bảng trắc nghiệm Stanford-Binet được coi là bản gốc cho nhiều bảng test IQ hiện nay [46]. Năm 1974, cha đẻ của “Sơ đồ tư duy” là Buzan cho rằng trí thông minh được phát huy hết công năng khi trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường tốt, được khuyến khích, động viên và giáo dục đúng phương pháp.

Như vậy, hành trình khám phá trí thông minh đã phát triển từ trí thông minh thiên bẩm-cái bên trong, đến khả năng học từ môi trường bên ngoài của nó. Và chiếc cầu nối chính là học và đào tạo đúng phương pháp [14], [19], [42]. Năm 1980, Papert của học viện công nghệ Massachusetts là tác giả của trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence) và thuyết xây dựng kiến thức (Constructionist Learning). Theo ông, việc học kiến thức tốt nhất là qua hình thức học tập trải nghiệm (experiential learning), hay nói cách khác là “học” thông qua “hành” (learning by making).

Đây là tiền đề cho quá trình hình thành trí thông minh trải nghiệm: xây dựng kiến thức mới dựa trên kinh nghiệm và kiến thức trong quá khứ, liên kết và vận dụng 7 cả kiến thức và kinh nghiệm mới lẫn cũ [19]. Năm 1983, Gardner công bố thuyết TTMĐD (multiple intelligences). Thuyết TTMĐD của Gardner đưa ra một cách nhìn mới về trí thông minh. Lý thuyết của Gardner nhận diện trí thông minh của con người có 8 dạng như sau: - Trí thông minh Lôgíc-Toán học (Logical - Mathematical Intelligence), - Trí thông minh Ngôn ngữ (Linguistic Intelligence), - Trí thông minh Không gian-Hình ảnh (Spatial intelligence), - Trí thông minh Cơ thể-Vận động (Bodily-Kinesthetic Intelligence), - Trí thông minh Âm nhạc (Musical Intelligence), - Trí thông minh Tương tác (Interpersonal Intelligence), - Trí thông minh Nội tại (Intrapersonal Intelligence), - Trí thông minh Lĩnh vực tự nhiên (Naturalist Intelligence).

Gardner cho rằng trí thông minh là “khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm có giá trị thiết thực cho xã hội”. Theo Gardner, trí thông minh không chỉ đơn thuần là cái gì trời cho ai nấy được mà còn bao gồm kết quả của học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân. Từng loại trí thông minh trên sẽ phát huy tốt với các chương trình đào tạo, huấn luyện phù hợp [15], [19]. Thuyết TTMĐD ra đời đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà khoa học tiếp tục phân tích, đánh giá và bổ sung.

Tiêu biểu là Feldman, Krechevsky, Stork với dự án mang tên Project Spectrum với mong muốn tạo ra các biện pháp giúp xác định được trí thông minh của trẻ mầm non và tiểu học. Sternberg cùng Gardner tạo ra một chương trình học trung học còn gọi là thực hành trí thông minh trong nhà trường. Battro đề xuất sự tồn tại của công nghệ trí thông minh và cách thức để hoàn thành các tiêu chí về TTMĐD do Gardner đặt ra. Thomas Armstrong với nhiều tác phẩm viết về TTMĐD: 7 Kinds of Smart: Identifying and Developing Your Multiple Intelligences (1999), In Their Own Way: Discovering and Encouraging Your Child's Multiple Intelligences (2000), The Multiple Intelligences of Reading and Writing: Making the Words Come Alive (2003), Multiple Intelligences in the Classroom 3rd ed.

8 Như vậy, lý thuyết về TTMĐD của Gardner đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nhiều nhà giáo dục vì nó mang lại một mô hình để hành động theo những gì chúng ta tin tưởng: tất cả trẻ em đều có thế mạnh [16, tr. Nhiều trường trên khắp thế giới đã hợp nhất các nguyên tắc TTMĐD thành sứ mệnh, chương trình giảng dạy của họ. Có hàng trăm cuốn sách đã được viết bằng nhiều ngôn ngữ về sự liên quan của lý thuyết TTMĐD [15]. Một số trường học ở Bắc Mỹ đã xem xét xây dựng chương trình giảng dạy theo trí thông minh được thiết kế trong một lớp học và thậm chí trong toàn bộ nhà trường để phản ánh những hiểu biết mà Gardner phát triển.

Kornhaber, một nhà nghiên cứu liên quan đến Dự án Zero1 đã xác định được một số lý do khiến giáo viên và nhà hoạch định chính sách ở Bắc Mỹ phản ứng tích cực với thuyết TTMĐD đó là lý thuyết này đã chứng thực kinh nghiệm hàng ngày của các nhà giáo dục: học sinh suy nghĩ và học theo nhiều cách khác nhau. Nó cũng cung cấp cho các nhà giáo dục một khung khái niệm để tổ chức và phản ánh về việc đánh giá chương trình giảng dạy và các phương pháp sư phạm cũng như phát triển các phương pháp mới có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhiều học sinh trong lớp học của mình [35]. Thuyết TTMĐD đã được áp dụng thành công trong hoạt động giảng dạy của nhiều nhà giáo dục trên thế giới, điển hình như việc áp dụng TTMĐD trong lớp học để cải thiện việc dạy viết cho sinh viên của Fred C. Luneburg và Melody R.

Luneburg tại Đại học Bang Sam Houston. Trong cách tiếp cận này, hai ông đã dựa vào trí thông minh nổi trội của từng sinh viên để đưa ra hướng dẫn cho sinh viên về kỹ thuật viết văn đạt hiệu quả [17]. Vào năm 2008, trường tiểu học West View tại Sigapore đã thực hiện dự án cải tiến chương trình dạy Toán dựa vào thuyết TTMĐD. Mục đích của dự án là nghiên cứu cách kết hợp các hoạt động do giáo viên xây dựng dựa trên lý thuyết về TTMĐD có ảnh hưởng đến sự tham gia, động lực, thái độ và thành tích học toán của học sinh tiểu học [53].

Hay như tại trường mầm non Real Kids của Malaysia đã áp dụng khái niệm TTMĐD vào Chương trình Giáo dục mầm non. Thông qua TTMĐD để phát triển 1 Dự án Zero: Dự án về tiềm năng con người do Quỹ Benard Van Leer thuộc tổ chức quốc tế Hà Lan phi lợi nhuận hoạt động dành cho trẻ em và thanh thiếu niên kém may mắn. 9 một cách tiếp cận có hiệu quả việc nuôi dưỡng trẻ: tôn trọng nhu cầu cá nhân, dựa trên sức mạnh và lĩnh vực thông minh của mỗi trẻ [26]. Có thể nói lý thuyết này đã mở ra cho trẻ em cũng như các nhà giáo dục trên toàn thế giới nhiều cơ hội để học tập và giảng dạy bằng nhiều cách khác nhau nhằm đạt hiệu quả giáo dục tốt hơn.

Nghiên cứu trong nước Thuyết TTMĐD có tiếng vang ở Việt Nam trong những năm gần đây. Nghiên cứu về vấn đề này, trong nước đã có các công trình sau: Đề tài cấp Bộ “Ứng dụng thuyết đa trí tuệ vào việc thiết kế một số mẫu dạy học môn Tiếng Việt, Văn, Toán lớp 3 CGD” của Bùi Thanh Thủy. Đề tài đã đề xuất các nguyên tắc thiết kế có ứng dụng thuyết TTMĐD, xây dựng quy trình thiết kế và một số thiết kế CGD có ứng dụng thuyết TTMĐD từ đó xây dựng 15 thiết kế (5 thiết kế Tiếng Việt, 5 thiết kế Văn và 5 thiết kế Toán) với mỗi môn học có quy trình cụ thể nhằm đa đạng hóa hình thức học tập, làm mới các thiết kế CGD, nâng cao hiệu quả học tập, để tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ học hơn tại trường tiểu học thực nghiệm Hà Nội [13]. Cũng là đề tài cấp Bộ: “Ứng dụng lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của Howard Gardner vào việc tìm hiểu các loại hình trí tuệ của học sinh tiểu học” của Nguyễn Thị Mai Lan.

Đề tài này thử nghiệm ứng dụng lý thuyết TTMĐD của Gardner vào việc khảo cứu mô hình TTMĐD ở học sinh khối 4, tại trường tiểu học Nguyễn Siêu Hà Nội bằng cách sử dụng trắc nghiệm TTMĐD của Thomas Armstrong. Kết quả nghiên cứu cho thấy thiên hướng phát triển 7 năng lực trí thông minh của học sinh tiểu học được nghiên cứu phát triển không đồng đều: ở một số học sinh có thiên hướng phát triển cả 7 năng lực trí tuệ này, và một số ít học sinh khác chỉ phát triển một số năng lực trí thông minh nhất định [8]. Luận văn thạc sĩ: “Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn toán lớp 6” của Hoàng Thị Thu năm 2014 đã vận dụng thuyết TTMĐD để đề xuất một số chiến lược dạy học phù hợp với từng dạng trí thông minh và đưa ra một số biện pháp vào dạy học chương trình môn Toán lớp 6 trong đó chú trọng phát huy khả năng nổi trội của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 6 [11]. Đối với cấp học mầm non có luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hoàng Cúc năm 2015: 10 “Ứng dụng thuyết trí thông minh đa dạng của Howard Gardner vào phát triển chương trình giáo dục mầm non”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ