CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về tội phạm nói chung Tư tưởng của C. Mác trong các tác phẩm: Tiền lương, lao động và tư bản (1947); Các thuyết về giá trị thặng dư (1962), Tư bản - quyển 1 (1867); Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848) và Tư bản (1894) đã đặt nền móng dẫn đến sự ra đời tội phạm học xung đột (Conflict Creminology). Mác, trong bất kỳ xã hội tư bản nào đều có hai giai cấp xã hội cơ bản: 1) giai cấp vô sản (proletariat) là giai cấp chiếm số đông trong xã hội, không có tư liệu sản xuất và là giai cấp không có quyền lực trong xã hội.
2) giai cấp tư sản (bourgeoisie) là giai cấp chiếm thiểu số trong xã hội nhưng lại chiếm hữu tư liệu sản xuất và có quyền lực trong xã hội. Vì không có tư liệu sản xuất, nên để kiếm sống, giai cấp vô sản phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản, dẫn đến quá trình người bóc lột người mà cụ thể là giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô sản, từ đó dẫn đến xung đột quyền lợi giai cấp sâu sắc, hình thành cuộc đấu tranh giai cấp [64, tr. Quan điểm này giải thích được nguồn gốc của tội phạm là do xung đột quyền lợi giữa các giai cấp đối kháng (giàu - nghèo, bóc lột - bị bóc lột, áp bức - bị áp bức) trong xã hội nhưng lại chưa giải thích được nguyên nhân phạm tội giữa những người nghèo bị bóc lột, bị áp bức với nhau hoặc giữa những người giàu bóc lột, áp bức với nhau. Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, V.
Lênin phát triển một cách toàn diện những quan điểm của C. Ăngghen về tội phạm, nguyên nhân của chúng trong các xã hội bóc lột và con đường thủ tiêu tội phạm trong xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. Ông chỉ ra khâu quyết định của việc phòng ngừa tội phạm là phải xác định được các nguyên nhân và đề ra các biện pháp xoá bỏ các nguyên nhân đó “Nguyên nhân xã hội sâu xa của những hành động quá lạm vào quy tắc của 12 cuộc sống chung là sự bóc lột quần chúng, sự nghèo đói và sự bần cùng của quần chúng. Một khi gạt bỏ được nguyên nhân chủ yếu ấy thì những hành động quá lạm tất nhiên sẽ bắt đầu tiêu vong” [109, tr.
Ông còn cho rằng các vi phạm và tội phạm cũng tự mất đi nhờ kết quả cuộc đấu tranh mạnh mẽ nhằm thủ tiêu, khắc phục "tàn dư" của xã hội cũ. Quá trình đó phụ thuộc vào xã hội xã hội chủ nghĩa tạo ra các tiền đề về kinh tế, chính trị, tinh thần để "tiêu vong" tội phạm. Lênin đã đưa ra quan điểm và đặc biệt chú ý xây dựng hệ thống các biện pháp phòng ngừa xã hội đối với tội phạm như phải nâng cao đời sống vật chất của quần chúng nhân dân; phải giáo dục ý thức, thái độ lao động đúng đắn; giáo dục ý thức tôn trọng các quy tắc của nếp sống công cộng, tôn trọng nhau; giáo dục nâng cao tính tích cực, tính tự giác, tạo điều kiện cho quần chúng tham gia quản lý công việc của nhà nước và của xã hội. Đặc biệt là việc quần chúng tham gia vào quá trình quản lý người phạm tội.
Theo Lênin, việc phát hiện tội phạm và áp dụng hình phạt kịp thời cũng là biện pháp, phương hướng để phòng ngừa tội phạm [14, tr. Cuốn “Tội phạm học lí thuyết” (Theoretical Criminology) của tác giả George B.Vold, thay vì giải thích tội phạm như là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, ông nhấn mạnh cần nhận thức tội phạm như là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, khi các quyền lợi về nhu cầu của các giai cấp có tác động qua lại với nhau đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các giai cấp để duy trì hoặc mở rộng vị thế kiểm soát của giai cấp này với giai cấp khác (về tài sản, giáo dục, việc làm, luật pháp…). Cuộc cạnh tranh này được thể hiện như là cuộc đấu tranh hoặc xung đột chính trị giữa giai cấp có quyền lực nắm quyền làm luật, kiểm soát pháp luật với giai cấp khác “Toàn bộ quá trình chính trị của luật pháp, vi phạm pháp luật, tuân thủ pháp luật phản ánh một cách trực tiếp những xung đột cơ bản, sâu sắc về quyền lợi giữa các nhóm người… Những người làm ra pháp luật với kiểm soát quyền lực và làm ra chính sách có quyền 13 xác định những hành vi nào bị coi là tội phạm” [124, tr. Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, nhóm người có quyền lực sẽ làm ra pháp luật để bảo vệ lợi ích của họ, từ đó những hành vi coi là tội phạm sẽ là những hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích của thiểu số người có quyền lực trong xã hội.
Tác giả William Chambliss và Rober T.Seidman trong cuốn “Luật pháp, trật tự và quyền lực” đã chỉ ra chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân thúc đẩy con người đi vào con đường tội phạm: Những điều kiện sống của cá nhân ảnh hưởng đến giá trị và những chuẩn mực của người đó, khuynh hướng xung đột chuẩn mực vì từng giai cấp nhất định có những hệ thống chuẩn mực riêng được thể hiện trong luật nhưng không được phân chia đều giữa các giai cấp và nó có liên quan mật thiết đến vị trí kinh tế, chính trị của giai cấp đó [30]. Tiếp đến Richard Quiney, cho rằng tội phạm tất yếu, không thể tránh khỏi trong điều kiện xã hội tư bản vì tội phạm là sự phản ứng lại những điều kiện vật chất của cuộc sống, Quiney cho rằng giải pháp cơ bản đối với vấn đề tội phạm là xây dựng và phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa. Ông cho rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, nó là kết quả của trật tự xã hội, không phải là chủ nghĩa không tưởng [63, tr. Tiếp đến Travis Hirschi trong tác phẩm “Nguyên nhân của tội phạm” cho rằng tội phạm là kết quả của sự yếu kém hoặc phá vỡ quy ước của cá nhân và xã hội.
Kiểm soát xã hội đối với hành vi của con người thông qua quy ước của cá nhân với xã hội, quy ước xã hội có ảnh hưởng đến hành vi của con người trong đó có tội phạm, trong xã hội có tồn tại quan hệ giữa cá nhân với xã hội sẽ giảm thiểu sự lệch hướng khỏi quy ước đó, giảm thiểu hành vi phạm tội [63, tr. Cuốn sách “Vấn đề tội phạm” của Walter C. Reckless Reckless cho rằng tội phạm là kết quả của áp lực xã hội liên quan đến cá nhân thúc đẩy họ thực hiện hành vi phạm tội cũng như sự thất bại chống lại áp lực đó. Để phòng ngừa tội phạm, Reckless nhấn mạnh cần tiến hành ngăn chặn cả bên 14 trong và bên ngoài.
Để ngăn chặn bên ngoài, ông cho rằng xã hội, nhà nước, cộng đồng dân cư, các làng quê, gia đình, các nhóm hạt nhân khác có thể quản lí các cá nhân thông qua những ràng buộc chuẩn mực và đòi hỏi được chấp nhận. Để ngăn chặn bên trong, thể hiện thông qua khả năng của cá nhân tuân thủ những chuẩn mực được đòi hỏi để người đó tự quản lí bản thân. Bên cạnh đó, ông còn cho rằng, ngăn chặn bên trong thì hiệu quả khó khăn hơn nhiều ngăn chặn bên ngoài việc thực hiện hành vi phạm tội [63, tr. Cloward và Lioyd E.
Ohlin trong cuốn sách “Tội phạm và cơ hội” đã xác định trong xã hội, có hai loại cấu trúc cơ hội xã hội để đi tới thành công: cơ hội hợp pháp và cơ hội bất hợp pháp. Họ quan sát và nhận ra rằng các cơ hội hợp pháp là sẵn có đối với các cá nhân sinh ra thuộc tầng lớp văn hóa trung lưu, các cá nhân thuộc tầng lớp văn hóa thứ cấp hạ lưu thường từ chối cơ hội này. Hậu quả là các cơ hội bất hợp pháp để đi tới thành công thường là sự lựa chọn của các cá nhân thuộc về văn hóa thứ cấp. Các ông đã mô tả 3 loại văn hóa thứ cấp.
Đó là: 1) Văn hóa thứ cấp tội phạm (trong loại văn hóa này các mẫu tội phạm sẵn có để được chấp nhận thông qua quá trình xã hội hóa đến văn hóa thứ cấp); 2) Văn hoá thứ cấp xung đột (các thành viên thuộc loại này tìm kiếm vị trí của mình trong xã hội thông qua bạo lực); 3) Văn hóa thứ cấp ẩn dật (các thành viên thuộc loại này có khuynh hướng rút lui khỏi đời sống xã hội. Văn hóa thứ cấp phạm tội có ít nhất 3 đặc điểm. Cụ thể là: 1) Hành vi phạm tội phản ánh sự trợ giúp của văn hóa thứ cấp như là sự tái diễn lại có tính chất thường xuyên: 2) Cơ hội đi đến thành công đối với nghề nghiệp người thành niên phạm tội đôi khi là do việc tham gia văn hóa thứ cấp phạm tội; 3) Văn hóa thứ cấp phạm tội được truyền đạt cho các thành viên của nó có sự ổn định cao và có xu hướng chống lại sự kiểm soát hoặc thay đổi. Cũng theo Cloward và Ohlin, để hạn chế cũng như phòng ngừa tội phạm hiệu quả thì việc tạo nhiều cơ hội hơn về giáo dục, việc làm cho những 15 người đang trong độ tuổi lao động nhất là người trẻ tuổi là rất quan trọng [64, tr.
Công trình nghiên cứu của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang: “Văn hóa bạo lực thứ cấp: một học thuyết hòa trộn của tội phạm học”. Công trình này đã giới thiệu nhiều cách tiếp cận xã hội học để giải thích về nguyên nhân của tội phạm. Theo sự đánh giá của nhiều nhà chuyên môn, công trình của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang đã đánh dấu sự biến đổi về chất so với các thuyết văn hóa thứ cấp khác trước đó bởi vì cách đặt vần đề mới được nêu trong công trình này. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ các dữ liệu về tỉ lệ phạm tội giết người giữa các nhóm người (chủng tộc) khác nhau ở Philadenphia, hai ông đã cố gắng giải thích về nguyên nhân của tội phạm.
Chủ đề chủ yếu của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang đề cập đó là: bạo lực là một hình thức được học tập (học từ người khác) để thích ứng với việc đương đầu với các vấn đề trong cuộc sống. Vấn đề học tập bạo lực xảy ra trong bối cảnh của văn hóa thứ cấp và văn hóa này đã nhấn mạnh đến lợi ích cửa việc sử dụng bạo lực so với các hình thức thích ứng khác trong cuộc sống để tồn tại.