Chương 1 với tiêu đề: Cơ sở lý luận của GDPL, gồm 3 tiết. Tiết 1, Bản chất, phân loại GDPL. Tiết 2, Cấu trúc của GDPL. Tiết 3, Chức năng của GDPL.
Tác giả khẳng định rằng, bản chất của GDPL là quá trình định vị một cách vững chắc những nguyên tắc, tư tưởng pháp luật vào trong ý thức pháp luật của đối tượng được giáo dục. Chương 2, với tiêu đề: Tổ chức GDPL trong xã hội Nga đương đại. Tác giả quan niệm rằng, giáo dục lại về pháp luật là một quá trình phức tạp hơn, bởi vì nó hướng vào khắc phục những phán đoán, đánh giá sai lầm của cá nhân, nhắm tới sửa chữa các hành vi xử sự tiêu cực, ảnh hưởng không có lợi đối với con người. Hội Luật gia dân chủ quốc tế (2006), Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa, Hội thảo khoa học, Paris, Cộng hòa Pháp [41].
Những năm gần đây, ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật và giáo dục pháp luật của các tổ chức quốc tế. Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Hội luật gia dân chủ quốc tế đã họp tại Paris, Cộng hòa Pháp vào tháng 6 năm 2006. Trong chương trình nghị sự của Hội nghị đã có một cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề: “Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa” đã thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức luật gia đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Hội thảo đã tập trung làm rõ tính cấp thiết phải đa dạng hóa các 17 phương thức GDPL cho các tầng lớp xã hội ở mỗi quốc gia, nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa.
Các ý kiến hội thảo cho rằng, nội dung GDPL không chỉ là pháp luật quốc nội của mỗi nước mà phải tập trung phổ biến, giáo dục các nội dung pháp luật quốc tế. Hội Luật gia ASEAN (2009), Hiến chương ASEAN – Đưa ASEAN lên những tầm cao mới, Hội thảo khoa học, Hà Nội, Việt Nam [43]. Tại hội thảo này, nhiều vấn đề về GDPL đã được đặt ra. Trong phần đầu tiên của hội thảo có chủ đề “Tác động của Hiến chương ASEAN tới hệ thống giáo dục pháp luật của các nước ASAN” đã có một loạt các báo cáo khoa học nghiên cứu về tình hình GDPL ở các nước ASEAN.
Các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng, quá trình giáo dục phải được bắt đầu bằng việc trang bị cho các sinh viên luật những kiến thức cơ bản nhằm tạo ra hình thức phù hợp để bênh vực quyền lợi của người dân, tuyên truyền pháp luật nhằm bảo đảm cho người dân có khả năng tiếp cận công lý với mức chi phí thấp nhất. Nội dung “Trợ giúp pháp luật cho người nghèo” cần được đưa vào chương trình đào tạo nhằm giúp người học có hiểu biết thấu đáo về ý nghĩa của việc giúp đỡ pháp luật cho những ai đang ở bên lề xã hội. Cùng với xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế và sự phát triển của các tổ chức quốc tế, ngày càng có nhiều hội thảo về pháp luật và GDPL mang tầm cỡ quốc tế, châu lục và các khu vực. Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức GDPL cũng được phát triển khá mạnh mẽ.
Hội thảo khoa học quốc tế (2012), Giáo dục pháp luật ở các nước châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền, Seoul, Hàn Quốc [42]. Hội thảo được tổ chức từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 27 tháng 10 năm 2012, tại Seoul, Hàn Quốc. Tại hội thảo này, các báo cáo khoa học đều quan tâm đến vấn đề GDPL theo hướng gắn mục đích, nội dung GDPL với cải cách kinh tế và cải cách tư pháp trong bối cảnh toàn cầu hóa. Các báo cáo cho thấy, GDPL ở mỗi quốc gia phải được thực hiện đồng bộ với đặc điểm văn hóa và các chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong từng bối cảnh cụ thể.
18 Ở Việt Nam, GDPL đã được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Hồ Chí Minh (1959), “Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên”, đã nhiều lần nhấn mạnh: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, toàn thể cán bộ và nhân dân sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” [64, tr. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, việc tuyên truyền GDPL cho mọi người dân là một nhiệm vụ quan trọng. Bởi vì, “Việc công bố đạo luật chưa phải đã xong mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài đến mọi người dân thì mới thực hiện tốt được” [64, tr.
Đào Trí Úc (chủ biên) (1995), Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, sách tham khảo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội [102]. Đây là đề tài khoa học cấp Bộ do tác giả Đào Trí Úc làm chủ nhiệm, được in thành sách tham khảo. Tác giả đã phân tích làm rõ nội hàm của ý thức pháp luật, lối sống pháp luật.
Đã đề xuất các giải pháp xây dựng ý thức và lối sồng theo pháp luật. Một trong những giải pháp đó là tăng cường GDPL cho các tầng lớp xã hội, bao gồm GDPL cho cán bộ, công chức nhà nước, các tâng lớp nhân dân và học sinh, sinh viên. Trần Ngọc Đường (1996), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội [29].
Tác giả đã giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về GDPL như khái niệm GDPL; các yếu tố cấu thành của quá trình GDPL. Tác giả đã phân tích làm rõ chủ thể GDPL, đối tượng GDPL, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GDPL; các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình GDPL. Trong đó, tác giả khẳng định: Bản chất của quá trình GDPL là hoạt động có tổ chức, có định hướng của các chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành [29, tr. Cuốn sách là tài liệu quan trọng cung cấp cho người đọc những vấn đề lý luận cơ bản về GDPL.
Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1998), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới. Đề tài khoa học 19 cấp Bộ, mã số 92 - 98 - 223 – ĐT, Hà Nội [105]. Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX-07. Các tác giả đã phân tích yêu cầu của công cuộc đổi mới đặt ra yêu cầu mới đối với công tác GDPL.
Các tác giả đã phân tích quan niệm về GDPL, cấu trúc các thành tố cơ bản của GDPL, đánh giá thực tiễn GDPL cho cán bộ, nhân dân và học sinh, sinh viên trong những năm qua, chỉ ra những mặt tích cực và những hạn chế trong công tác GDPL, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh các hoạt động GDPL đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an 2013 [97]. Cuốn sách do Trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn, đã dành một chương viết về GDPL. Trong đó đã xác định mục đích của GDPL được xem xét trên nhiều góc độ, tùy thuộc theo đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục và hình thức giáo dục.
Tuy nhiên, quá trình GDPL đều hướng tới 3 vấn đề cơ bản như sau: Một là, GDPL nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể (với tính cách là đối tượng nhận thức hay đối tượng của giáo dục). Hai là, giáo dục pháp luận nhằm khơi dây tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật. Ba là GDPL nhằm hình thành thói quen hành vi xử sự theo pháp luật với động cơ tích cực. Đồng thời cũng trong chương này, các tác giả đã luận giải về nội dung giáo dục và phương pháp, hình thức tổ chức GDPL.
Dương Thanh Mai (1996), Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật, Luận án tiến sĩ Luật học [60]. Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ hình thức tổ chức giáo dục đặc thù của GDPL là thông qua hoạt động tư pháp. Dựa trên thực tiễn hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Tác giả đã tổng kết khái quát nhận định rằng, trên diễn đàn khoa học đang có ba quan niệm với cách hiểu khác nhau về GDPL.
Một là, không thừa nhận GDPL; quan điểm thứ hai, xem nhẹ vai trò của GDPL; quan niệm thứ ba, đơn giản hóa GDPL, đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp GDPL thông qua hoạt 20 động tư pháp bằng thực tiễn của Tòa và luật sư. Về thực chất đây là phương pháp GDPL trong thực tiễn, bằng thực tiễn, thông qua thực tiễn. Nguyễn Khắc Hùng (2009), Các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài luận án tiến sĩ Giáo dục học, trường Đại học Thái Nguyên [46].
Luận án đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến biện pháp tổ chức GDPL; đồng thời đã phân tích đánh giá thực trạng công tác tổ chức GDPL trong nhà trường THPT và thực trạng triển khai thực hiện các biện pháp tổ chức GDPL cho học sinh ở các trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tác giả luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp tác động với 9 biện pháp cụ thể về GDPL cho học sinh ở các trường THPT hiện nay. Đây là đề tài luận án tiến sĩ về giáo dục học, có nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến quản lý GDPL cho học sinh các trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, đặc trưng và điều kiện đảm bảo hiệu quả GDPL cho học sinh ở các trường THPT.
Luận án đã đánh giá thực trạng hoạt động GDPL ở các trường THPT Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất quan điểm định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động GDPL cho học sinh các trường THPT ở Việt Nam hiện nay. Phan Hồng Dương (2014), Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học không chuyên ở Việt Nam, đề tài luận án tiến sĩ luật học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội [20]. Luận án đã xây dựng cơ sở lý luận của GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật.