Chương 1 VAI TRÕ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC ĐẠI DIỆN VÀ BẢO VỆ NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI XẢY RA TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Vai trò của vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đối với việc phát triển kinh tế Việt Nam Vốn và lao động là hai yếu tố quan trọng tạo nguồn tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Các nước đang phát triển thường thiếu vốn để tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng nên vốn đầu tư nước ngoài là đối tượng thu hút đầu tư của các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài thường chọn đầu tư vào các nước có nguồn lao động rẻ, giàu tài nguyên và chính trị ổn định. Vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90, Việt Nam là nước có nền kinh tế xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu, có lực lượng lao động phổ thông dồi dào, giá cả sức lao động thấp và môi trường chính trị ổn định, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài liên tục cải thiện theo hướng có lợi cho các nhà đầu tư nên rất nhiều yếu tố thuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy kinh tế phát triển. Trước năm 1986, Việt Nam quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch, tập trung, tỷ lệ lạm phát cao (700% vào năm 1986). Nền sản xuất trong nước bị đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu, nền kinh tế thiếu vốn trầm trọng.
Năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế nước, kinh tế tư nhân. Năm 1988, Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực đánh dấu sự thừa nhận chính thức đầu tư nước ngoài trong 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nền kinh tế Việt Nam và từ đó các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu quan tâm đến cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Đến năm 1995, Bộ luật Lao động được ban hành tạo cơ sở pháp lý thống nhất điều chỉnh các quan hệ lao động trong nền kinh tế nhiều thành phần. Tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế có xu hướng tăng nhanh so với nguồn vốn Nhà nước và vốn khu vực tư nhân và tăng cao nhất vào năm 2008.
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng giảm dần theo chính sách cổ phần hóa. Đồng thời môi trường đầu tư ngày càng cải thiện, Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ngày càng cạnh tranh công bằng hơn nên khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ tăng nhanh. Tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài từ 1995 đến 2006 luôn đạt số dương và có xu hướng cùng chiều so tốc độ tăng số vụ đình công. Tốc độ tăng số vụ đình công cao nhất vào năm 2006 (163%) và tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài cao nhất vào năm 2007 (95,8%).
Nguyên nhân số vụ đình công tăng nhanh trong năm 2006 được các nhà nghiên cứu cho rằng qui trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể phức tạp và lương tối thiểu chưa điều chỉnh kịp với mức tăng của lạm phát. Năm 1998, 1999, dòng vốn đầu tư nước ngoài chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á nên lượng vốn vào Việt Nam tăng nhưng tăng ít hơn so với các năm trước. Quan hệ lao động cũng chưa chuyển đổi mạnh nên đình công cũng chịu ảnh hưởng của nguồn vốn suy giảm. Trong giai đoạn này, đa số các cuộc đình công do nguyên nhân xung đột về văn hóa và các doanh nghiệp vi phạm luật lao động.
Năm 2003, Nhà nước tăng lương tối thiểu (vào ngày 01/01/2003) nhưng nhiều doanh nghiệp sản xuất không kịp thời điều chỉnh. Trong khi đó, giá cả tiêu dùng liên tục tăng mạnh dẫn đến số vụ đình công năm 2003 tăng 39 vụ so với năm 2002. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 2004, các doanh nghiệp điều chỉnh lương tối thiểu nên số vụ đình công giảm 5 vụ so với năm 2003. Do vậy, tốc độ tăng số vụ đình công năm 2004 ngược chiều với tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài.
Năm 2007, tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cao nhất. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều trong năm 2007, 2008 đã dẫn đến nguồn vốn rẻ hơn. Các ngân hàng cho vay với lãi suất thấp nên tín dụng trong nước tăng đồng thời tăng cung tiền trong nền kinh tế dẫn đến lạm phát tăng nhanh vào năm 2008 nhưng lương tối thiểu không điều chỉnh kịp dẫn đến số vụ đình công cao nhất từ trước đến nay (800 vụ).1: Tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thực hiện và tốc độ tăng số vụ đình công Nguồn: Tổng cục Thống kê (2008), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội, (tr. 103) và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Tình hình lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Sự phát triển của vốn đầu tư nước ngoài cũng kéo theo tỷ lệ lao động làm việc tại khu vực này tăng lên. Năm 2008, tỷ lệ lao động làm việc tại khu 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực có vốn đầu tư nước ngoài là 3,73% tăng gấp 4 lần so với năm 2000. Tỷ lệ lao động nữ trung bình tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng cao hơn các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân trên 60%. Do vậy, các cuộc đình công thường xảy ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sử dụng nhiều lao động nữ.
Bộ luật Lao động qui định tại khoản 2, Điều 110 về việc ưu đãi, xét giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Đây là chính sách khuyến khích các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, các ngành có sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ. Hình thức đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu là 100% vốn nước ngoài. "Các nước đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các quốc gia Châu Á như: Hàn Quốc (21,2% tổng số dự án), Đài Loan (18,5% tổng số dự án), Trung Quốc (6,2% tổng số dự án)" [1].
Các doanh nghiệp tại các quốc gia này thường quản lý lao động hà khắc hơn so với các nước Châu Âu. Lượng vốn trung bình của mỗi dự án có vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia này thấp (4 triệu USD/ dự án) do các nước này đầu tư chủ yếu vào các ngành là dệt may, giày da, gia công hàng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động. Do vậy, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia này có áp lực trả lương cao hơn so với các ngành thâm dụng vốn, sử dụng kỹ thuật công nghệ cao vì sử dụng ít lao động. Đây là nguyên nhân đình công thường tập trung tại các doanh nghiệp có vốn Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc trong thời gian qua.
Tại Thanh Hóa, tính đến ngày 31/12/2010, trên địa bàn toàn tỉnh có 7.732 doanh nghiệp, trong đó: Doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp 6.746 doanh nghiệp (số doanh nghiệp đi vào hoạt động 5.940 doanh nghiệp, chiếm 88% số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh); doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 41 doanh nghiệp và doanh nghiệp hoạt động theo Luật Hợp tác xã 945 hợp tác xã. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã sử dụng 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.617 lao động, với số lao động được ký hợp đồng lao động là 130.356 lao động (trong đó: Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước 4.500 lao động; Khối doanh nghiệp ngoài dân doanh 110.856 lao động và khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 15. Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động đến mọi mặt đời sống xã hội. Trong quan hệ lao động, tranh chấp lao động có xu hướng gia tăng về quy mô, thời gian và tính phức tạp.
Đặc biệt là các tranh chấp lao động tập thể dẫn đến ngừng việc, đình công tự phát của người lao động mà không có sự đại diện của Công đoàn cơ sở. Chỉ tính trong ba năm qua (tính đến tháng 4/2011) trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra 12 vụ công nhân ngừng việc tập thể ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể là do: - Về phía doanh nghiệp: Chưa chấp hành tốt pháp luật lao động, còn lẩn tránh việc thực hiện các chế độ, nghĩa vụ đối với người lao động như: Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; thực hiện mức đóng Bảo hiểm xã hội thấp, chỉ vừa bằng mức lương tối thiểu; dây dưa nợ đọng Bảo hiểm kéo dài; không thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; thời gian làm việc của người lao động còn bị kéo dài quá quy định của pháp luật; tiền lương của người lao động thấp, cường độ lao động cao, thời gian làm việc nhiều nhưng lại không chăm lo đến đời sống, bữa ăn chất lượng kém, nước uống không đủ, quản lý hà khắc (có hành vi thô bạo, nhục mạ công nhân lao động.); một số lãnh đạo doanh nghiệp chỉ là người làm thuê cho chủ đầu tư, không có đầy đủ thực quyền nên những đề xuất, kiến nghị hợp pháp, chính đáng của người lao động không được xem xét, giải quyết kịp thời; hệ thống tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi từ phía người lao động và Công đoàn cơ sở lên cấp có thẩm 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế… Tình hình đó làm nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc trong công nhân lao động, làm cho quan hệ lao động trở nên phức tạp. - Về phía người lao động: Đa số còn trẻ tuổi, làm các công việc giản đơn và phần lớn mới từ nông thôn ra, chưa có tác phong công nghiệp; trình độ học vấn, tay nghề và hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế nên dễ bị kích động, lôi kéo tham gia ngừng việc tập thể khi bị đụng chạm đến quyền lợi như: tiền lương, tiền thưởng, điều kiện lao động.
Mặt khác, đời sống người lao động còn nhiều khó khăn nên họ cần làm việc bằng mọi giá, chấp nhận cả tăng ca, tăng giờ quá quy định trong khi chỉ hưởng mức thù lao thấp, không tương xứng với mức lao động mà họ bỏ ra.