Chương 1- Khái quát về quá trình mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc: nghiên cứu chính sách biên giới lãnh thổ và thực trạng mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc qua các thời kỳ Chương 2- Nguyên nhân mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc dưới lý thuyết quan hệ quốc tế: Áp dụng các khung lý thuyết khác nhau nhằm phân tích vấn đề một cách đa phƣơng diện. Chương 3- Đặc điểm và triển vọng của vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc và giải pháp cho Việt Nam: Đúc rút ra những đặc tính cốt lõi và dự đoán tƣơng lai của vấn đề mở rộng lãnh thổ. Đồng thời từ hiểu biết nguyên nhân, đặc điểm, đề xuất ra phƣơng hƣớng giải quyết cho tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC 1.1 Cơ sở lịch sử của quá trình mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc.
Xét tới cơ sở lịch sử của quá trình mở rộng lãnh thổ Trung Quốc thì Chủ nghĩa bành trƣớng lãnh thổ chính là một nhân tố cốt lõi chi phối hệ tƣ tƣởng và chính sách của các vƣơng triều Đại Hán và tiếp tục chi phối tới các chính sách đối ngoại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay. Thuật ngữ “Chủ nghĩa bành trƣớng” trong tiếng anh là “Expansionism”. Theo từ điển tiếng Anh, từ “Expansionism” đƣợc định nghĩa là: “the belief that a country should grow larger: a policy of increasing a country's size by expanding its territory”2 (tạm dịch là: Sự tin tƣởng rằng một quốc gia nên phát triển mở rộng: một chính sách làm tăng quy mô của quốc gia bằng cách mở rộng lãnh thổ của mình). Tuy nhiên, cần phân biệt rõ bành trƣớng và xâm lƣợc.
Theo tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc 1974 về định nghĩa "xâm lƣợc" có ghi: “Xâm lƣợc là việc sử dụng các lực lƣợng vũ trang của một nhà nƣớc chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của một quốc gia khác, hoặc bằng bất cứ cách nào khác không phù hợp với Hiến chƣơng Liên Hợp Quốc, nhƣ đƣợc nêu trong định nghĩa này”3. Còn chủ nghĩa bành trƣớng hay bành trƣớng là một chính sách của một quốc gia nhằm mở rộng lãnh thổ, quyền lực, lợi ích. Trong khi xâm lƣợc là hành động đƣa lực lƣợng vũ trang vào lãnh thổ nƣớc khác thì bành trƣớng là một chính sách. Bành trƣớng có nhiều phƣơng diện chính trị, văn hóa, kinh tế, lãnh thổ và chính sách này đƣợc triển khai qua nhiều phƣơng thức khác nhau.
Tuy nhiên, bành trƣớng có thể đồng nghĩa với xâm lƣợc khi nó đạt hình thái cực 2 www.com/dictionary/expansionism> [4/4/2015]. 3 United Nations, “UN Documents Gathering a body of global agreements. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoan nhất của bành trƣớng lãnh thổ là đƣa quân vào chiếm giữ lãnh thổ quốc gia khác. Nhƣ vậy, có thể nêu ra một khái niệm về chủ nghĩa bành trƣớng nhƣ sau: Chủ nghĩa bành trƣớng là một chính sách hay một tƣ tƣởng của một quốc gia mong muốn mở rộng quyền lực, lợi ích của mình về mặt lãnh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa.Cũng có thể đƣa ra một khái niệm: bành trƣớng lãnh thổ là một chính sách, tƣ tƣởng hoặc hành động đe dọa hay sử dụng vũ lực để chiếm một phần lãnh thổ của một quốc gia khác.
Cụ thế bành trƣớng lãnh thổ với Trung Quốc sẽ bao gồm việc đƣa ra các tuyên bố lãnh thổ mới, sử dụng vũ lực để theo đuổi các tuyên bố này tại các vùng lãnh thổ mới hoặc tại các tranh chấp lãnh thổ hiện có. Nền văn minh cổ đại của Trung Quốc xuất hiện sớm nhất và ổn định lâu dài trên lƣu vực sông Hoàng Hà. Vào thời khuyết sử, các bộ tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc trong quá trình gặp gỡ, đồng tồn tại, tiêu diệt và thôn tính lẫn nhau, thì chƣa thể xác định lãnh thổ cụ thể đƣợc. Trên cơ sở cƣ trú hoàn toàn tự nhiên thì lãnh thổ của nền văn minh Trung Quốc khởi thủy là lƣu vực sông Hoàng Hà.
Trải qua các thời nhà Hạ, nhà Thƣơng, lãnh thổ quốc gia cổ đại Trung Quốc vẫn chỉ gói gọn trong lƣu vực sông Hoàng Hà. Tới thời kỳ nhà Tây Chu và thời Xuân Thu chiến quốc, bờ cõi lãnh thổ Trung Quốc đã mở rộng thêm tới lƣu vực sông Trƣờng Giang. Từ đó trở đi, những triều đại Tần, Hán, Đƣờng, Tống, Nguyên, Minh, Thanh- mỗi triều đại là một đế quốc hùng mạnh, đóng vai trò to lớn trong việc mở rộng bờ cõi lãnh thổ của Trung Quốc đƣợc nhƣ hiện nay. Có thể chia 2000 năm lịch sử của Trung Quốc ra làm 7 giai đoạn lớn để có thể dễ hình dung thấy các giai đoạn bành trƣớng lãnh thổ cụ thể qua các thời kỳ.
Giai đoạn nhà Tần (năm 221-206 trƣớc Công nguyên): Trong 15 năm tồn tại ngắn ngủi, nhà Tần đã dốc sức đem quân xâm chiếm đất đai. Về Phía Bắc, Tần Thủy Hoàng cho 30 vạn quân đánh ngƣời Hung Nô, cƣớp đƣợc cả khu vực phía Nam sông Hoàng Hà ( Ninh Hạ, Tây Viễn.) vốn dĩ trƣớc đây không 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc đất của ngƣời Trung Quốc. Về phía Nam, Tần Thủy Hoàng cho đem 50 vạn quân đánh chiếm vùng Bách Việt rộng lớn ( các Tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Nam, Quý Châu hiện nay) rồi lập cơ quan hành chính địa phƣơng tại những khu vực này. Giai đoạn nhà Hán ( năm 202 trƣớc Công nguyên- năm 220 sau Công nguyên): Kéo dài 4 thế kỷ, nhà Hán đƣợc coi là một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Vƣơng triều Hán với những đội quân viễn chinh khổng lồ, liên tiếp mở những cuộc chiến tranh xâm lƣợc, phía Bắc đánh Hung nô ( Mông Cổ hiện tại) làm lãnh thổ đế chế Hung Nô này bị thu hẹp đi đáng kể. Phía tây đánh Tây Vực ( Tân Cƣơng ngày nay), phía Đông đánh Triều Tiên, phía Nam đánh Việt Nam thành lập nên Giao Châu ( vùng Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay). Kết quả, lãnh thổ Trung Hoa đã mở rộng với quy mô lớn. Đặc biệt, tại giai đoạn này, về phía Nam nhà Hán đã xâm chiếm tới Đèo Hải Vân của Việt Nam ngày nay.
Giai đoạn nhà Đường ( năm 618 đến năm 907): vào thời nhà Đƣờng, đặc biệt là thời Đƣờng Thái Tông, Trung Hoa là một quốc gia phát triển phồn thịnh và là một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới. Các đời vua nhà Đƣờng với quân số đông đã liên tiếp mở các cuộc tiến đánh, xâm lƣợc các quốc gia lân bang nhƣ Đông Đột Quyết ( Mông Cổ ngày nay), Tây Đột Quyết ( gồm các nƣớc Kazakhstan, Kyrgyzstan, Taijikistan ngày nay) và Cao Ly. Công cuộc bành trƣớng lãnh thổ của nhà Đƣờng đã mở rông diện tích lãnh thổ Trung Quốc lên gấp rƣỡi thời nhà Hán, và vƣơn tới những vùng lãnh thổ xa xôi, vƣợt xa biên giới lãnh thổ Trung Quốc hiện nay. Về phía Bắc biên giới đã vƣơn tới Hồ Baikal của Nga ngày nay, Phía Đông tới Biển Aral, các nƣớc Uzbekistan, Kyrgyzstan, Taijikistan, một nửa lãnh thổ Kazakhstan và một phần Afghanistan đều thuộc Lãnh thổ nhà Đƣờng.
Phía Tây lãnh thổ đã vƣơn tới Triều Tiên, Hàn Quốc ngày nay. Phía Nam tới dãy núi Hoành Sơn của Việt Nam. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn nhà Nguyên ( năm 1271 đến năm 1368): Đế chế Mông Cổ sau khi xâm chiếm Trung Quốc đã thành lập ra nhà Nguyên, tuy là vƣơng triều ngoại tộc nhƣng những vị vua nhà Nguyên sau này đều bị Hán hóa và tự coi mình là hoàng đế Trung Hoa. Nhà Nguyên với đội quân hùng mạnh đã mở các cuộc chinh phục, thảo phạt, tiến hành các cuộc xâm lƣợc.
Tới năm 1294, lãnh thổ bao gồm vùng Siberi của Nga, Mông Cổ, mở rộng tới toàn bộ bán đảo Triều Tiên tới biển Nhật Bản, phía Nam xâm lƣợc Miến Điện. Giai đoạn nhà Minh (từ năm 1368 đến năm 1644): dƣới triều Minh Thành Tổ, Trung Hoa là một đế quốc cƣờng thịnh, bành trƣớng thế lực ra ngoài rất mạnh. Đáng chủ ý là tới thế kỷ này, những cuộc xâm lƣợc, bành trƣớng thế lực của đế quốc Trung Hoa hƣớng trọng tâm xuống khu vực Đông Nam Á. Đế quốc Minh đã có những đoán thuyền biển hàng trăm chiếc lần lƣợt đi tới các Biển Đông, tới các vùng biển miền Trung Việt Nam và các vùng đảo ở bán đảo Đông Dƣơng, bán đảo Mã Lai… Năm 1407, nhà Minh đem quân xâm lƣợc nƣớc Đại Ngu (miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay) và cai trị Đại Ngu trong vòng 20 năm tới năm 1428.
Giai đoạn nhà Thanh (năm 1636 đến năm 1911): Nhà Thanh khởi thủy là đế quốc Mãn Châu, sau khi xâm lƣợc và chinh phục Trung Quốc, nhà Thanh đã lần lƣợt mở rộng xâm chiếm Đài Loan (1683), Mông Cổ (1691), Tây Tạng (1751), Tân Cƣơng (1759). Đến thời nhà Thanh, hình dạng lãnh thổ và đƣờng biên giới Trung Quốc cơ bản đã đƣợc định hình và gần giống với ngày nay. Mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1991. Sự thành lập vào ngày 1-10-1949 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức hình thành nên lãnh thổ Trung Quốc nhƣ hiện tại.
Từ năm 1949 đến năm 1991 là giai đoạn chứng kiến nhiều tranh chấp lãnh thổ và căng thẳng đẩy cao tới chiến tranh lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với Liên Xô (Nga ngày nay): những tranh cãi về đƣờng biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu chính thức nổ ra từ mùa hè năm 1960. Từ tháng 8 đến 9/1960 những ngƣời chăn cừu Trung Quốc gốc Kirghiz đƣa gia súc vƣợt biên giới với Liên Xô ở cùng Buz-Aigyr và đèo Berta ở Kirghistan, chăn thả trên lãnh thổ Liên Xô. Khi bị các lực lƣợng biên phòng Liên Xô chặn lại, yêu cầu họ rời lãnh thổ Liên Xô, họ đáp trả lại rằng họ hành động theo lệnh của lãnh đạo và họ đang làm việc trên lãnh thổ Trung Quốc.
Phía Trung Quốc khẳng định trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng rằng “ Mùa hè năm 1960, tại vùng đèo Buz- Aigyr thuộc Thiên Tân, Trung Quốc đã xảy ra sự cố, khi lính biên phòng Xô Viết bắt trói, đánh đập và xua đuổi những ngƣời chăn cừu Trung Quốc. Đây là sự cố đầu tiên trên đƣờng biên giới từ khi nƣớc Trung Hoa mới đƣợc thành lập”. Xung quanh vấn đề trên, hai bên đã gửi cho nhau ba công hàm dài và hai tuyên bố miệng.