Chương 1: Cơ sở lý luận + Chương 2: Tổng quan về HIV/AIDS ở Việt Nam. + Chương 3: Vai trò của Trung ương Hội PN Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS. - Phần 3: Danh mục tài liệu tham khảo. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Xã hội dân sự: 1. Một số quan niệm về xã hội dân sự: Xã hội được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ giữa con người với con người một cách tự nhiên. Từ buổi đầu sơ khai, các cá nhân trong xã hội có nhu cầu lợi ích giống nhau đã tập hợp lại thành những nhóm lợi ích. Sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích này tạo nên các xung đột trong xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đời của Nhà nước.
Sự tồn tại của Nhà nước nhằm khắc phục các mâu thuẫn bằng cách thiết lập một sự thoả thuận giữa tất cả các thành viên trong xã hội thông qua hệ thống luật pháp do nhà nước đặt ra hay theo cách nói của J. Locke thì đó là Khế ước xã hội. Như vậy, nhà nước và pháp luật được hình thành do sự thoả thuận giữa nhân dân, khi nào sự thoả thuận ấy bị phá vỡ thì người dân có quyền thiết lập một khế ước mới bằng nhiều cách khác nhau, đó là quyền tự nhiên của con người. Vì một lý do nào đó nếu nhà nước bị diệt vong hoặc thay đổi thì xã hội vẫn tồn tại và duy trì trên cơ sở các quyền tự nhiên của nó.
Sự ra đời của nhà nước, việc quản lý xã hội của nhà nước bằng pháp luật, bằng các thể chế không thể lấy đi tất cả các quyền tự nhiên của con người. Khi những quyền tự nhiên của con người và các quy định của nhà nước hài hoà, đáp ứng được nhu cầu sống của các cá nhân, đảm bảo tinh thần dân chủ và không có sự đối chọi giữa nhà nước và nhân dân thì có thể coi là một xã hội lý tưởng. Bàn về vấn đề này, theo Aristotle, nhà nước tốt nhất là một chính thể do giai cấp trung lưu nắm quyền, hài hoà các tham vọng và quyết định, hướng tới sự công bằng hơn giữa người giàu và người nghèo. Một nền dân chủ bao giờ cũng tốt hơn nền chính trị độc tài chuyên chế.
Thứ nhất, các cá nhân có cơ hội 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tham gia vào quá trình quản lý đất nước. Luật pháp là kết quả của quá trình tranh luận giữa người dân hơn là các chuyên gia. Vì thông qua tranh luận sẽ tăng khả năng trí tuệ và sự thông minh của xã hội và tập thể, tối ưu hoá lợi ích của tập thể. Thứ hai, mọi người khi tuân thủ luật pháp, người ta có quyền được sống mà không có sự can thiệp của nhà nước, và được bình đẳng trước pháp luật.
Socrates hai nghìn năm trước đây cho rằng con người chỉ có một cuộc sống tốt lành trong điều kiện xung đột về mặt nhu cầu và lợi ích, khi các vấn đề của xã hội được giải quyết qua tranh luận trước công chúng, các suy nghĩ và lập luận khác nhau, phản biện lẫn nhau để hướng tới sự khám phá ra chân lý, cho đến khi họ đạt được một trình độ lý luận mà không thể bị bác bỏ, lúc đó các mệnh đề đưa ra làm cơ sở cho giải quyết các xung đột và phát triển xã hội hài hoà. Như vậy, sự tồn tại của một nhà nước pháp quyền là cần thiết để đảm bảo xã hội vận hành theo một quỹ đạo thống nhất, song nhà nước pháp quyền cũng có hạn chế nhất định của nó. Mâu thuẫn giữa tính bắt buộc, quy chuẩn giới hạn của pháp luật và sự phong phú, sinh động của mọi nhu cầu cá nhân cho thấy có khi nhà nước pháp quyền trở nên chậm chạp thậm chí là quan liêu và tha hoá trong vận hành dẫn đến sự kìm hãm sự phát triển của xã hội nói chung và các cá nhân nói riêng. Do đó cách tốt nhất để lấy lại quyền tự do tự nhiên của của con người là tổ chức thiết chế xã hội sao cho quyền tự nhiên ấy không bị xâm phạm từ phía nhà nước trong khi vẫn có sự điều tiết của nhà nước và bộ máy công quyền.
Xã hội dân sự ra đời là một trong những giải pháp cho vấn đề này. Trên thế giới, xã hội dân sự không phải là một đề tài mới nhưng cho đến thế kỷ 21 mới thực sự được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam. Khi nói đến xã hội dân sự người ta thường nghĩ ngay đến tính phi nhà nước của nó. Đó là đặc trưng và là một trong những nhu cầu của xã hội dân sự.
Thuật ngữ “Civil Society” 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được dịch sang tiếng Việt có nghĩa là xã hội dân sự hoặc xã hội công dân được bắt nguồn từ phương Tây. Xung quanh thuật ngữ này có nhiều khái niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Nội hàm của khái niệm “Xã hội dân sự” xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là con người sống trong cộng đồng. Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (Thế kỷ XVIII), xã hội dân sự có nghĩa là xã hội văn minh với một nhà nước không độc đoán.
Các nhà triết học vĩ đại của thời kỳ Khai sáng, như Hobbes, Locke, Rousseau, Kant đã sử dụng khái niệm xã hội dân sự như một xã hội tự nhiên ở đó mỗi con người có quyền tự nhiên của mình bao gồm quyền sống, tự do, và sở hữu tài sản, và họ có quyền bảo vệ chúng. Kể từ năm 1750 đến năm 1850, tư tưởng về xã hội dân sự có bước chuyển biến mới phản ứng trước sự hình thành thể chế tự do của chủ nghĩa tư bản, sự sụp đổ của chế độ phong kiến, sự xuất hiện các nhóm lợi ích và tự do hoá thị trường. Các nhà tư tưởng cho rằng xã hội dân sự là nơi bảo vệ lợi ích và quyền tự do cá nhân chống lại các thể chế lạc hậu của nhà nước thông qua các hội tự nguyện. Mệnh đề chủ yếu trong số các tư tưởng này là chống lại sự tập trung quyền lực của nhà nước, bảo vệ tính đa dạng, niềm tin và giá trị hợp tác của các cá nhân, làm nền tảng cho một xã hội dân chủ.
Trong Luận về lịch sử xã hội dân sự viết năm 1767, A. Ferguson đã nói đại ý: xã hội dân sự, với tư cách là một xã hội văn minh của các công dân, không thể thịnh vượng được nếu như các nhu cầu và lợi ích thuần tuý về thương mại và kinh tế lấn át đức hạnh cá nhân và “tinh thần công” – public Spirit.ferguson, xã hội dân sự là một lĩnh vực văn hoá đạo đức nơi mà công dân quyết định vận mệnh của cộng đồng chính trị của họ, đó cũng là nơi những đức hạnh thiết yếu cho tự do được phát triển. Quan điểm này được Montesquieu chia sẻ trong Tinh thần pháp luật viết năm 1748. Theo Montesquieu, xã hội dân sự là lĩnh vực trung gian giữa quyền 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực chính trị (nhà nước) và công dân.
Nhà nước và luật pháp ra đời không phải chỉ để bảo vệ các lợi ích tư và tài sản của cá nhân, mà là nhằm tạo điều kiện cho công dân hoàn thiện và phát triển. Công bằng xã hội không phải là kết quả do sự phát triển tự do của phát triển kinh tế (thị trường) đem lại, mà nó được thiết lập bởi các yếu tố và yêu cầu đạo đức cũng như những mục tiêu chính trị của cả cộng đồng trong sự phát triển lịch sử của mình. Chỉ khi công dân ý thức được rằng điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của mình, quyền lợi của mình được quy định bởi bối cảnh tự nhiên, văn hóa và xã hội của cộng đồng nơi họ sinh ra thì công dân mới sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân (private interests) của mình vì phúc lợi công của cộng đồng. Trong nhà nước cộng hòa như vậy, luật pháp không phải là ý muốn tùy tiện của nhà cầm quyền, mà nó phải dựa vào tập quán (moeurs), môi trường xã hội, tôn giáo, thương mại… cụ thể của đất nước.
Đến thế kỷ XIX, Heghen mô tả xã hội dân sự như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm 3 yếu tố gia đình, nhà nước và xã hội dân sự. Xã hội dân sự được Hêghen đặt giữa gia đình và nhà nước trong tiến trình thực thi tự do đích thực. Nó bao gồm cả đời sống kinh tế của cộng đồng cùng với các thể chế pháp luật và cảnh sát, liên hội để đảm bảo sự hoạt động có trật tự và ổn định. Nếu trong gia đình các thành viên liên kết với nhau bởi tình thương yêu và sự tin cậy, thì trong xã hội dân sự, các thành viên liên kết với nhau bởi lợi ích cá nhân.
Các lợi ích cá nhân tạo nên sự phụ thuộc của cá nhân với nhau, nhưng sự khác biệt của các lợi ích cá nhân cũng có thể dẫn đến xung đột; vì vậy, trong đời sống xã hội dân sự còn có sự hiện diện của các thể chế cảnh sát và liên hội (cooporation) như là lực lượng “thứ ba” để dàn xếp và điều hành xã hội dân sự. Ở đây, trong xã hội dân sự, Hêghen cũng cố gắng tìm ra mức độ hợp lý giữa trao quyền tự do cho xã hội dân sự và việc điều hành giám sát. Nếu xã hội dân sự có quá nhiều tự do 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thì có thể dẫn đến sự bất bình đẳng, nhưng nếu các cơ quan quyền lực can thiệp quá nhiều thì sẽ dẫn đến mất tự do và kìm hãm phát triển kinh tế. Kế thừa quan điểm của Heghen, Karl Marx cho rằng dưới chủ nghĩa tư bản lợi ích cá nhân sẽ bao trùm xã hội, trong một xã hội thị trường, Nhà nước chủ yếu bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản.
Trong xã hội khi đó các cá nhân chủ yếu quan tấm đến những lợi ích cá nhân mà hạn chế các lợi ích cộng đồng, chú trọng đến sản xuất và tiêu dùng, công nhân sẽ bị các chủ sở hữu tư liệu sản xuất đối xử như những hàng hoá, là công cụ sản xuất mang lại giá trị thặng dư cho mình. Các cá nhân có khuynh hướng được đánh giá dựa trên nghề nghiệp, thu nhập và tài sản sở hữu, ít chú trọng đến giá trị truyền thống.