MỞ ĐẦU HIV/AIDS là một bệnh mạn tính với gánh nặng to lớn cho bản thân người nhiễm HIV, gia đình của người bệnh và cộng đồng. Ước tính có khoảng 0,8% người trưởng thành trong độ tuổi 15-49 trên toàn thế giới đang nhiễm HIV, và mức độ ảnh hưởng của bệnh thay đổi đáng kể giữa các quốc gia và khu vực khác nhau [58]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, HIV/AIDS hiện đang là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn nhất toàn cầu với khoảng 37,9 triệu người nhiễm HIV còn sống; 1,7 triệu người mới mắc HIV và 770.000 ca tử vong có liên quan đến HIV/AIDS tính đến cuối năm 2018 [58]. Ở Việt Nam, tính đến hết năm 2019 có 211.981 người hiện đang nhiễm HIV còn sống, trong đó có 8.479 người nhiễm HIV/AIDS mới, hơn 2.000 người tử vong [11].
Năm 2019 cũng là năm thứ 11 liên tiếp, dịch HIV/AIDS ở Việt Nam được khống chế, giảm cả 3 tiêu chí về số người nhiễm mới, số người chuyển sang giai đoạn AIDS và số người tử vong do AIDS. Chương trình phòng, chống HIV/AIDS được triển khai tại nước ta từ năm 2004, khoảng 80% cho kinh phí hoạt động của chương trình là từ các nguồn viện trợ quốc tế [9]. Trong đó chi phí cho thuốc kháng vi-rút HIV (ARV) chiếm khoảng 95% tổng chi phí thuốc sử dụng cho bệnh nhân [23]. Tuy nhiên, Việt Nam đang dần thoát khỏi nhóm các quốc gia nghèo và trở thành một nước có thu nhập trung bình nên nguồn kinh phí viện trợ từ nước ngoài bị cắt giảm nghiêm trọng, nhiều nhà tài trợ đã ngừng cấp kinh phí hỗ trợ công tác điều trị và phòng chống HIV/AIDS.
Để kinh phí dành cho phòng chống HIV/AIDS được ổn định, chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo nhanh chóng chuyển đổi từ việc dựa chủ yếu vào viện trợ sang huy động đa dạng các nguồn lực từ trung ương, địa phương đến cộng đồng, xã hội. Cụ thể, Quyết định số 1899/QĐ-TTg ngày 16/10/2013 phê duyệt “Đề án đảm bảo tài chính cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013-2020” [28]. Quyết định 2188/QĐ-TTg ngày 15/11/2016 của Thủ tướng chính phủ ban hành hướng dẫn tạm ứng, thanh toán thuốc kháng HIV được mua sắm tập trung từ quỹ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có nội dung:. “Giao cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố bố trí kinh phí mua thẻ cho người nhiễm HIV để đảm bảo 100% người nhiễm HIV có thẻ BHYT đồng thời đảm bảo kinh phí đồng chi trả thuốc ARV cho người nhiễm HIV có thẻ BHYT”.
Bình Thuận là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, dân cư phân bố không đồng đều giữa nông thôn (61,9%) và thành phố (38,1%), có 34 dân tộc cùng sinh sống và 12 tôn giáo khác nhau. Tính đến hết năm 2019, tổng số người nhiễm HIV còn sống trong toàn tỉnh là 631 người, trong đó số phát hiện mới là 62 người và 13 người tử vong, có 565 người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV [32]. Chi phí điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS của tỉnh trong thời gian qua chủ yếu dựa vào viện trợ của Quỹ chăm sóc sức khỏe AIDS Hoa Kỳ (AHF) và một số nguồn viện trợ nước ngoài khác. Nhưng từ năm 2019, các nguồn viện trợ này cắt giảm dần và ngừng hỗ trợ toàn phần nên việc thanh toán chi phí điều trị chuyển sang Quỹ Bảo hiểm Y tế.
Đề tài: “Phân tích chi phí trực tiếp y tế cho điều trị HIV/AIDS giai đoạn 2015 – 2019 và đề xuất phân bổ kinh phí trong điều trị HIV/AIDS giai đoạn 2020 – 2024 tại tỉnh Bình Thuận” nhằm tổng hợp, cập nhật thông tin về chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân ngoại trú để góp phần hỗ trợ Chính phủ ước tính nguồn kinh phí cần thiết cho công tác phòng chống HIV/AIDS khi không còn nguồn viện trợ quốc tế. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU I. Mục tiêu chung Xác định gánh nặng kinh tế đối với 1 năm đầu tiên điều trị HIV/AIDS của một người bệnh HIV/AIDS. Mục tiêu cụ thể 1.
Mô tả đặc điểm chung của bệnh nhân HIV/AIDS tại tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2015 – 2019. Phân tích chi phí điều trị năm đầu tiên cho bệnh nhân HIV/AIDS tại tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2015 – 2019. Ước tính phân bổ ngân sách cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Bình Thuận trong các năm giai đoạn 2020 – 2024. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cương về bệnh HIV/AIDS 1. Khái niệm HIV là chữ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh Human Immunodeficienci Virus. HIV là vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người [10].
AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong. Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời gian trung bình là 5 năm [10]. Tổng quan về HIV/AIDS HIV là vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người và gây ra bệnh AIDS – hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Hệ thống miễn dịch là cơ chế bảo vệ chống lại nhiễm trùng, tăng sức đề kháng khỏi những tác nhân gây bệnh [5].
Theo thời gian, HIV làm suy yếu khả năng miễn dịch của cơ thể. Từ đó, làm cơ thể mất khả năng chống lại các nhiễm trùng và một số bệnh lí ác tính khác. Giai đoạn này được gọi là bệnh AIDS. AIDS có thể đe dọa tính mạng, nhưng nó cũng là một căn bệnh có thể phòng ngừa được.
HIV/AIDS được chẩn đoán bằng cách duy nhất là xét nghiệm máu. Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở nước ta được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng thực sự dịch HIV/AIDS đã bắt đầu bùng nổ từ năm 1993 trong nhóm những người nghiện chích ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó dịch bắt đầu lan ra các tỉnh.
Đến cuối tháng 12/1998, toàn bộ 61 tỉnh, thành trực thuộc Trung ương trong cả nước đều đã phát hiện có người bị nhiễm HIV [5], [9]. HIV lây truyền khi máu hoặc dịch tiết ở cơ quan sinh dục (ví dụ như tinh dịch) bị nhiễm bệnh của người này xâm nhập vào cơ thể người khác. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em ở mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm HIV. Có thể bị nhiễm HIV thông qua những con đường sau: + Quan hệ tình dục không an toàn, không dùng bao cao su khi quan hệ.
+ Kim bẩn hoặc vật dụng khác dùng để tiêm thuốc có dính máu bị nhiễm bệnh đâm phải vào người. + Truyền máu hoặc các sản phẩm máu chưa qua quy trình kiểm tra cẩn thận. + Do mẹ mang thai truyền sang cho con trong thời gian nhiễm bệnh. + HIV không lây lan qua không khí, trong thực phẩm.
Giao tiếp xã hội thông thường như bắt tay, ôm, ăn uống chung chén đũa cũng không ảnh hưởng. + Đối với trẻ nhỏ, nguy cơ bị nhiễm bệnh có thể xảy ra trước khi chúng được sinh ra hoặc do bú sữa mẹ có nhiễm HIV. + Trẻ sinh ra nếu bị nhiễm HIV thường không có triệu chứng rõ ràng sau sinh. Khi trẻ được 2 đến 3 tháng tuổi, chúng có thể bắt đầu biểu hiện những tình trạng như: + Tăng cân chậm hay suy dinh dưỡng + Nhiễm trùng nấm có thể gây sang thương ở da kéo dài, gây nấm miệng và cổ họng khiến trẻ biếng ăn vì đau họng + Sốt kéo dài + Sưng đau hạch ở cổ + Bụng chướng, tiêu lỏng kéo dài, nôn ói + Các vấn đề về hệ thần kinh (như co giật, phát triển tâm thần và vận động chậm hơn so với những đứa trẻ khác cùng tuổi) Một đứa trẻ bị nhiễm HIV có xu hướng dễ bị nhiễm trùng nhiều hơn.
Ngoài ra trẻ cũng có nguy cơ bệnh nặng hơn hay chậm cải thiện hơn những đứa trẻ khác. Người lớn bị nhiễm HIV có thể không có triệu chứng tại thời điểm bắt đầu nhiễm bệnh. Có thể mất 5 đến 10 năm để các triệu chứng dần xuất hiện rõ. thời gian này, họ có thể là đối tượng lây vi-rút cho người khác mà không hề hay biết bản thân đã nhiễm HIV.
Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc được sử dụng trong điều trị HIV. Tuy nhiên, thuốc có tác dụng làm chậm quá trình diễn tiến của bệnh, không thể điều trị khỏi hoàn toàn. Để việc điều trị đạt hiệu quả như mong muốn, thuốc điều trị HIV cần phải được uống đúng lúc và đúng cách. Tổng quan chẩn đoán, điều trị và dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS 1.
Chẩn đoán HIV/AIDS 1. Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS (phát hiện kháng thể HIV) đối với người lớn và trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên: Một mẫu máu dương tính với cả ba lần xét nghiệm với ba loại sinh phẩm có chế phẩm kháng nguyên khác nhau và các nguyên lý phản ứng khác nhau (chiến lược III). Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS (phát hiện kháng thể HIV) đối với người lớn và trẻ em từ 18 tháng tuổi [8] Xét nghiệm Xét nghiệm Xét nghiệm Kết quả lần thứ nhất lần thứ hai lần thứ ba Ba xét nghiệm bên Serodia-HIV hoặc ELISA-HIV Uni- dương tính, cho kết ELISA-Genscreen HIV Quick test form II quả dương tính với kháng thể HIV Ba xét nghiệm bên ELISA-HIV Uni- Serodia-HIV hoặc dương tính, cho kết ELISA-Genscreen HIV form II Quick test quả dương tính với kháng thể HIV Ba xét nghiệm bên ELISA-Genscreen Serodia-HIV hoặc ELISA-HIV Uni-form dương tính, cho kết HIV Quick test II quả dương tính với kháng thể HIV Ba xét nghiệm bên Serodia-HIV hoặc ELISA-Genscreen ELISA-HIV Uni-form dương tính, cho kết Quick test HIV II quả dương tính với kháng thể HIV. Lâm sàng Những người bệnh thuộc nhóm A3; B3; C1; C2 và C3 được chẩn đoán là bệnh nhân AIDS.
Như vậy định nghĩa bệnh nhân AIDS bao gồm: * Tất cả những người nhiễm HIV mà số lượng CD4 < 200 tế bào/mm3 máu, mặc dù chưa có triệu chứng lâm sàng. * Có các bệnh chỉ điểm, dù số lượng CD4 > 500 tế bào/mm3 máu [39] Bảng 1. Phân loại nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em trên 13 tuổi và người lớn dựa vào tiêu chuẩn phân loại của CDC-Atlanta năm 1993 Tế bào CD4 Phân loại lâm sàng Loại A Loại B Không triệu Loại C Có triệu chứng Tỷ lệ lympho chứng bệnh lý Các bệnh chỉ Số lượng lâm sàng nhưng toàn phần hạch toàn thân điểm trong không phải loại kéo dài hoặc AIDS A và C nhiễm HIV cấp ≥ 500 TB/mm3 A1 B1 C1 200 - 499 A2 B2 C2 TB/mm3 < 200 TB/mm3 A3 B3 C3 1.