ĐẶT VẤN ĐỀ Theo công bố của Tổ chức Y tế Thế giới cuối năm 2017, Human Immunodeficiency Virus (HIV) tiếp tục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên toàn cầu, đã cướp đi hơn 35 triệu sinh mạng, riêng trong năm 2017 có 940.000 người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HIV. Tính đến cuối năm 2017, toàn cầu có khoảng 36,9 triệu người bệnh HIV với 1,8 triệu người bị nhiễm mới. Trong đó, khu vực Châu Phi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với 25,7 triệu người bệnh HIV, số mới mắc cũng chiếm hơn hai phần ba tổng số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu. Mặc dù số mới mắc vẫn tăng lên, tuy nhiên với nhiều hoạt động triển khai trên phạm vi rộng của Tổ chức Y tế thế giới từ năm 2000 đến 2017, tỉ số số ca nhiễm HIV mới giảm 36% và tử vong liên quan đến HIV đã giảm 38% với 11,4 triệu người.
Thành tựu này là kết quả của những nỗ lực to lớn của các chương trình HIV quốc gia được hỗ trợ bởi xã hội dân sự và một loạt các đối tác phát triển [33], [57]. Tại Việt Nam, theo báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrom ) của Bộ Y tế trong 3 quý đầu năm 2017, số người bệnh HIV/AIDS được báo cáo đang còn sống là 208.371 nhưng chỉ quản lý được 80% trường hợp, tổng số người bệnh HIV tử vong từ đầu dịch được báo cáo là 91.840 trường hợp. Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước phát hiện mới 6.883 trường hợp nhiễm HIV, số chuyển sang giai đoạn AIDS là 3.484, tử vong là 1. Trong số mới phát hiện mắc, nữ chiếm 22%, nam 78%, lây truyền qua đường tình dục 58%, lây truyền qua đường máu 32%, mẹ truyền sang con 2,6%, không rõ chiếm 8%.
Về phân bố theo nhóm tuổi số người mới phát hiện mắc có 40% trong độ tuổi từ 30 – 39, 30% từ 20 – 29%, 19% từ 40 – 49, 6% trên 50 tuổi, 3% từ 14 – 19, 2% trẻ em từ 0 – 13 tuổi. Kết quả giám sát cho thấy, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,53%, phụ nữ bán dâm là 2,39% và quan hệ tình dục đồng giới nam là 7,36%. Tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam đã tăng từ 5,1% năm 2015 lên 7,36% năm 2016 [4], [7], [8], [29], [34]. Theo đánh giá của Bộ Y tế, số liệu dịch HIV có xu hướng giảm.
Tuy nhiên, 2 dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng, những nơi được đầu tư mạnh của các tổ chức quốc tế vẫn còn có thể phát hiện thêm nhiều người bệnh HIV. Dự báo vẫn còn nhiều người bệnh HIV không thuộc nhóm nguy cơ cao do đó rất khó phát hiện sớm, các trường hợp này thường chẩn đoán muộn giai đoạn AIDS [8], [36]. Với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, Bộ Y tế đã có rất nhiều các hoạt động nhằm gia tăng tuyên truyền, tăng cường hoạt động hỗ trợ chăm sóc nhưng vẫn còn rất nhiều trường hợp không quản lý được, hàng năm số mới mắc vẫn không ngừng tăng lên. Việc thực hiện mục tiêu thanh toán đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030 ở nước ta rất khó đạt được [6], [57].
Chính vì vậy, việc thay đổi phương pháp tiếp cận, tuyên truyền, hỗ trợ chăm sóc tích cực, hiệu quả bằng cách thực hiện công bằng trong các chính sách y tế, không kỳ thị trong CSNB HIV/AIDS và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng. Phương pháp này đòi hỏi nguồn nhân lực là những người điều dưỡng tại các cơ sở y tế phải có kiến thức vững chắc về HIV/AIDS, được tập huấn về tâm lý liệu pháp và có chính sách hỗ trợ để động viên khuyến khích phù hợp. Sinh viên điều dưỡng, những người sẽ trực tiếp theo dõi, tư vấn và chăm sóc cho những người bệnh HIV/AIDS tại các cơ sở y tế trong tương lai cần phải có kiến thức trong việc phòng chống và chăm sóc cho người bệnh HIV/AIDS. Liệu kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba của Trường Cao đẳng Quân y 1 đã thực sự tốt? Thái độ của nhóm đối tượng này trong chăm sóc người bệnh HIV/AIDS và phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS như thế nào? Để giải đáp những câu hỏi trên, chúng tôi nghiên cứu “Kiến thức về HIV/AIDS, thái độ trong phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên Trường cao đẳng quân y 1 năm 2019 và một số yếu tố liên quan” với các mục tiêu: 1.
Đánh giá kiến thức về HIV/AIDS và thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba tại Trường Cao đẳng Quân y 1 năm 2019. Thang Long University Library 3 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức về HIV/AIDS và thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cương về HIV/AIDS HIV được viết tắt của cụm từ “Human Immunodeficiency Virus” dùng để chỉ loại virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy hệ thống miễn dịch làm cho cơ thể con người mất khả năng chống lại miễn dịch [24]. AIDS được viết tắt của cụm từ “Acquired Immunodeficiency Syndrome” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Đây là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người bệnh HIV dễ mắc nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dẫn đến tử vong cho người bệnh [24].
Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, tỉ lệ nhiễm bệnh thường gặp ở những nhóm nguy cơ cao (gái mại dâm, ma túy …), do đặc điểm dịch HIV/AIDS, do thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không đầy đủ, do truyền thông chưa đầy đủ hoặc không phù hợp và đặc điểm tâm lý xã hội ở Việt Nam khiến công tác phòng, chống, chăm sóc, thống kê người bệnh HIV gặp nhiều khó khăn [8]. Dịch tễ học của nhiễm HIV 1. Tác nhân gây bệnh AIDS và một số đặc điểm sinh học của HIV Tác nhân gây bệnh AIDS là HIV - những Retrovirus, với acid nhân là RNA, chúng có khả năng tổng hợp thành DNA từ những mã di truyền của RNA nhờ vào một men đặc biệt gọi là men sao mã ngược (reverse transcriptase - RT) nhưng không hoàn chỉnh. Điều này, giúp cho virus thay đổi kháng nguyên, tạo nên nhiều biến chủng khác nhau, giúp cho virus thoát khỏi sự tìm diệt của hệ miễn dịch [19].
Hình dạng và cấu trúc HIV có đặc điểm chung của họ Retrovirus. Virus hoàn chỉnh có cấu trúc 3 lớp: Lớp vỏ ngoài (envelop), vỏ trong (capsid) và lớp lõi của HIV. Thang Long University Library 5 * Lớp vỏ ngoài (envelop): Lớp envelop là một màng lipid kép có kháng nguyên chéo với màng sinh chất tế bào và có các gai nhú. Gai nhú là các phân tử glycoprotein có trọng lượng phân tử 160 kilodalton (gp160) gồm hai phần: - Glycoprotein màng ngoài có trọng lượng phân tử là 120 kilodalton (gp120).
Đây là kháng nguyên dễ biến đổi nhất, gây khó khăn cho phản ứng bảo vệ cơ thể và chế vaccin phòng bệnh. - Glycoprotein xuyên màng có trọng lượng phân tử 41 kilodalton (gp41) [9]. - Lớp trong hình trụ không đều cấu tạo bởi các phân tử protein có trọng lượng phân tử là 24 kilodalton (gp24). Đây là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán HIV/AIDS sớm và muộn [9].
* Lõi của HIV: Gồm genom và các enzym [9]. Sức đề kháng HIV không có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh và dễ dàng bị bất hoạt bởi các yếu tố vật lý, hóa học và nhiệt độ. Chúng bị diệt bởi nhiệt độ > 56o C sau 20 phút, với cồn, với các chất tẩy và diệt trùng thông thường như dung dịch cloramin, nước Javel, hơi nước nóng [19]. Sự xâm nhập và nhân lên của HIV Virus có khả năng nhận diện các receptor là nhóm CD4 và các receptor khác; có men tiêu proteine (các protease) giúp nhóm thành phần mà virus vừa tổng hợp được lại thành những virus hoàn chỉnh và phá vỡ tế bào vật chủ để phóng thích các virus thế hệ sau ra bên ngoài, tiếp tục tấn công các tế bào đích khác [19].
Trong cơ thể người bệnh, virus khó bị tiêu diệt. Chúng tấn công các tế bào có mang phân tử CD4 cùng với các phân tử có ái tính với chemokin như các tế 6 bào lympho T (gọi là tế bào CD4+), tế bào Langerhans dưới da, tế bào đệm (glial) ở hệ thần kinh, đại thực bào, tế bào mono và tế bào lympho ở vùng mầm của hạch bạch huyết. Chúng ẩn trong các hạch bạch huyết ở giai đoạn đầu, sau đó tiếp cận với các tế bào có receptor thích hợp, đặc biệt tế bào T CD4+, xâm nhập và phá hủy tế bào này. Sự giảm dần số lượng T CD4+ làm cơ thể mất khả năng miễn dịch với ngọai cảnh, dẫn đến nhiễm trùng dễ dàng và tử vong [19].
Việc đánh giá số lượng T CD4 là một biện pháp hữu hiệu để đánh giá mức độ suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV/AIDS. Lượng T CD4 đơn độc có thể tiên đoán tương đối khả năng bệnh tiến triển trong 1 – 2 năm. Những người bệnh có số lượng T CD4 giảm trên 7% trong khoảng 1 năm có khả năng phát triển thành AIDS gấp 35 lần so với người bệnh có T CD4 ổn định [56], [32]. Theo một số nghiên cứu, tỉ lệ trung bình T CD4 ở người nhiễm HIV/AIDS giảm từ 7 – 15%/năm hoặc khoảng 30 – 90 tế bào/năm.
Sự suy giảm TCD4 có liên quan đến nồng độ virus trong máu, khi mồng độ virus là 30.000/ml máu thì số lượng T CD4 < 50 TB/mm3 [11]. Theo những nghiên cứu trên thế giới số lượng tế bào TCD4 ở người bình thường là 500TB/mm3 - 1400TB/mm3; TCD8 là 180TB/mm3 đến 860TB/mm3; Tỷ lệ CD4/CD8 là 1,1 - 3,5 [39]. Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu cho thấy số lượng T CD4 ở người bình thường là 700 - 1200TB/mm3, tỷ lệ TCD4/TCD8 là 1,2 [1], [11]. Ngoài tế bào lympho TCD4 là một dấu ấn đại diện quan trọng để đánh giá mức độ suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV/AIDS, còn có một chỉ số khác cũng có giá trị trong việc đánh giá tiến trình nhiễm HIV của người nhiễm HIV/AIDS; đó là số lượng tế bào bạch cầu lympho.
Cũng giống như tế bào lympho TCD4, tế bào lympho cũng giảm dần theo sự suy giảm của hệ thống miễn dịch. Bởi vậy, có thể dựa vào sự thay đổi số lượng tế bào lympho để đánh giá tiến trình nhiễm HIV/AIDS [28]. Các đường lây truyền của HIV 1.