phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Khái luận chung về lãnh đạo công tác tƣ tƣởng Chƣơng 2: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tƣ tƣởng Chƣơng 3: Giá trị lý luận và thực tiễn của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tƣ tƣởng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƢ TƢỞNG 1.1 Công tác tƣ tƣởng và những nguyên tắc của công tác tƣ tƣởng 1.1 Khái niệm tư tưởng Thuật ngữ “tư tưởng” (idea) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là hình thức. Cho đến ngày nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “tư tưởng”: tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới chung quanh [52, tr. 43]; tư tưởng là những quan điểm, ý nghĩ phản ánh thế giới vật chất trong nhận thức của con người và thể hiện mặt này hay mặt khác của thế giới khách quan [42, tr.v… Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, đời sống xã hội có hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; do đó có hai lĩnh vực sản xuất là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần để đáp ứng hai nhu cầu đó. Lĩnh vực vật chất quyết định lĩnh vực tinh thần, nhưng mặt khác, lĩnh vực tinh thần có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lĩnh vực vật chất.
Ăngghen viết: “nhân tố lịch sử một khi được những nhân tố khác, xét tới cùng là nguyên nhân kinh tế, làm nảy sinh ra thì nhân tố lịch sử đó cũng có thể tác động trở lại đến môi trường của nó, và thậm chí đến những nguyên nhân đã tạo ra nó” [2, tr. 90] Vì vậy, tinh thần, tư tưởng - một bộ phận của lĩnh vực tinh thần, có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Trong lịch sử xã hội loài người, lúc đầu con người tiến hành các hoạt động sản xuất vật chất để đảm bảo nhu cầu sinh tồn của mình, sau đó cùng với sản xuất vật chất, xã hội thường xuyên diễn ra các quá trình sản xuất tinh thần. Ăngghen viết: “con người trước hết cần phải ăn, uống, chổ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, và v.
Ăngghen đã chỉ ra ý thức đầu tiên của con người được hình thành trên cơ sở bộ não - dạng vật chất có tổ chức cao, dưới “hai sức kích thích chủ yếu” là lao động và ngôn ngữ. Sau đó, do nhu cầu không ngừng nhận thức để cải biến thế giới, phục vụ con người và giao tiếp xã hội, sản xuất tinh thần ra đời và ngày càng phát triển. Quá trình sản xuất tinh thần này sinh ra ý thức bảo vệ lợi ích con người. Ở xã hội nguyên thủy chưa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất hiện giai cấp, đời sống tinh thần còn nghèo nàn, song lúc đó đã có một dạng tâm lý xã hội - như tình cảm, tâm trạng mong muốn… của con người - hình thành tự phát dưới dạng ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống.
Có quan điểm cho rằng, xã hội nguyên thủy đã có tư tưởng. Điều đó chỉ đúng, nếu hiểu khái niệm tư tưởng theo nghĩa ban đầu của nó. Thực ra, xã hội nguyên thủy mới chỉ có “mầm mống tư tưởng”. Khi xã hội phát triển, phân chia thành giai cấp, có sự tách rời giữa lao động trí óc và lao động chân tay, tầng lớp trí thức xuất hiện thì mới có các nhà tư tưởng bảo vệ lợi ích cho những người mà mình đại diện một cách có ý thức.
Có thể thấy rõ sự xuất hiện tư tưởng trong xã hội Hy Lạp cổ đại - quốc gia có chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình - từ những “mầm mống tư tưởng” như thế nào. Trong cuốn Lược khảo Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, giáo sư Đỗ Tư cho rằng: “Trên quan điểm khoa học, vào thế kỷ XI - IX trước công nguyên, hình thái kinh tế - xã hội Hy Lạp về cơ bản vẫn còn là hình thái kinh tế cộng đồng nguyên thủy và sự xuất hiện của các nhân tố giai cấp, nhà nước cũng chỉ mới là bắt đầu. Tình hình kinh tế - xã hội Hy Lạp trong thời kỳ này được phản ánh trong hai tập sử thi Iliát và Ôđixê mà theo truyền thuyết thì tác giả là Hôme” [51, tr. Dù tác giả đó là có thật hay không, thì một điều chắc chắn phải có một hoặc một số ít người có trình độ tri thức nhất định mới có thể sáng tác ra các bản trường ca đó, thể hiện rõ ý muốn bênh vực lợi ích của nô lệ, đầy tớ - những người phải lao động dưới sự cai quản khắc nghiệt và dã man của chủ nô.
Vào thế kỷ VIII - VI trước công nguyên, trong xã hội Hy Lạp, giai cấp và nhà nước mới chính thức ra đời thì các tập sử thi nói trên đã từ truyền miệng được ghi lại bằng chữ Hy Lạp cổ ở thế kỷ VI trước công nguyên. Việc ghi chép đó chỉ có các nhà trí thức mới làm được, trên cơ sở kế thừa và phát triển những mầm mống tư tưởng xã hội trước đó. Bất cứ tư tưởng nào cũng đều do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định. Khi phân tích mối quan hệ giữa các nhà tư tưởng tiểu tư sản, C.
Mác chỉ ra: sở dĩ hộ là đại biểu của giai cấp tiểu tư sản, chính là vì tư tưởng của họ bị quy định bởi lợi ích vật chất và địa vị xã hội của tiểu tư sản. Mác đi tới kết luận: “Nói chung, mối quan hệ giữa những đại biểu chính trị và văn học của một giai cấp với giai cấp mà họ đại diện là như thế đó” [6, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực thông qua lăng kính của nhà tư tưởng. Chẳng hạn, người ta vẫn có thể dễ dàng nhận biết trong những dự báo về tương lai ở cấp độ toàn cầu của nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ Alvin Toffler lập trường giai cấp tư sản, ở việc đề cao quá mức vai trò kỹ trị trong xã hội hiện đại.
Mác, tư tưởng phải gắn với lợi ích, tư tưởng mà không gắn với lợi ích là điều hết sức vô nghĩa. Chẳng hạn, khi nói về tư tưởng của Luít Napôlêông mang danh đại diện cho giai cấp nông dân Pháp giữa thế kỷ XIX nhưng hoàn toàn không gắn với lợi ích của giai cấp nông dân. Mác viết: “Những tư tưởng ấy chỉ là những ảo giác trong cơn hấp hối, là những từ đã biến thành những câu nói suông, là những thần linh đã biến thành những bóng ma” [7, tr. 272] Các nhà tư tưởng thường bảo vệ lợi ích giai cấp dưới hình thức lý tưởng hóa, tức là gắn cho giai cấp mình một sứ mệnh đại diện chân chính cho toàn xã hội, và do đó, lợi ích được bảo vệ cũng chính là lợi ích chung, phổ biến trong xã hội.
Trong Hệ tư tưởng Đức, C. Ăngghen viết: “mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, điều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến” [8, tr 68]. Lấy giai cấp tư sản trong chế độ tư bản làm ví dụ. Mác viết: “Trong chế độ này, mỗi lợi ích, mỗi thiết chế xã hội đều biến thành một tư tưởng chung, và được luận giải như là một tư tưởng” [9, tr.
Chỉ có tư tưởng vô sản mới thực sự bảo vệ lợi ích chung phổ biến trong toàn xã hội, vì lợi ích của giai cấp vô sản phù hợp với lợi ích của đại đa số tầng lớp nhân dân. Lẽ dĩ nhiên, trong xã hội có giai cấp thì tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai cấp. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Ăngghen viết: “Lịch sử tư tưởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị” [10, tr.
Trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh để truyền bá, thu phục lòng người, lôi kéo quần chúng nhân dân theo quan điểm tư tưởng của giai cấp thống trị, nhằm biến tư tưởng thành 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sức mạnh để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp. Thực chất đấu tranh tư tưởng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp. Ăngghen viết: tất cả mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học, hay trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác - thực ra chỉ là biểu hiện ít nhiều rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội…” [11, tr. Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư tưởng đã góp phần quan trọng giúp giai cấp vô sản giành chính quyền.
Sau khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư tưởng của xã hội cũ, những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc và các tư tưởng thù địch, phản động để làm cho ý thức xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tính thần của xã hội. Qua đó, có thể hiểu khái niệm tư tưởng như sau: Tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi ích ít nhiều có tính phổ biến của con người, của xã hội. Như vậy, tư tưởng là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, trừu tượng; phản ánh lợi ích của tập đoàn, giai cấp, dân tộc, thời đại nhất định (lợi ích có tính phổ biến) và trong xã hội có giai cấp, luôn có sự đấu tranh tư tưởng giữa các giai cấp. Trong lịch sử, các giai cấp thống trị xã hội đã phát triển tư tưởng (hệ thống hóa, khái quát hóa tư tưởng của giai cấp mình thành lý luận, thành các học thuyết chính trị - xã hội) làm vũ khí lý luận trong đấu tranh giai cấp.