Chương 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ CẢM HỨNG CHÍNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY 1.Các chặng đường sáng tạo thơ Nguyễn Duy Khi nói đến những chặng đường sáng tạo của một tác giả, nhà thơ P.Antokolxky đã nói rằng: “Cũng nhƣ trong bất kỳ một lĩnh vực nào cái quan trọng nhất trong nghệ thuật là quá trình, là sự hình thành, là cuộc đấu tranh, là sự tìm tòi, là một dòng nƣớc không bao giờ cạn tự khơi lấy một dòng sông”. Để tìm hiểu về hành trình sáng tạo và những cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Duy, chúng tôi cho rằng không thể chỉ dừng lại ở phạm vi xem xét từng tác phẩm của ông mà phải nhìn nhận sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy trong gần bốn mươi năm qua như một hành trình mà mỗi tác phẩm chỉ là một sự kiện, một mắt xích, một cột mốc trong hành trình đó. Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, thị xã Thanh Hoá (nay là thành phố Thanh Hoá), tỉnh Thanh Hoá. Từ thủa nhỏ những khúc hát ru, những câu chuyện dân gian của bà, của mẹ đã thấm sâu vào tâm hồn ông, nó thẩm thấu vào trong thơ ông như một nguồn mạch vô tận.
Những năm vào quân ngũ trở thành người lính và sau đó lại làm báo đã tạo điều kiện cho Nguyễn Duy đi qua nhiều vùng đất của tổ quốc. Rồi tiếp tục cuộc hành trình vượt ra ngoài biên giới, Nguyễn Duy đã đi tới các nước Xã hội chủ nghĩa, qua các nước Tây Âu và Mĩ. Ông được ví như con ngựa sung sức, luôn ở tư thế động, đôi chân không biết mỏi. Đến đâu ông cũng đặt bút viết, cũng xúc cảm và suy ngẫm.
Ông khám phá cuộc sống để nếm trải, lắng nghe, quan sát và suy nghiệm. Vì vậy, Nguyễn Duy đã chắt lọc, đã “đãi cát tìm vàng” từ một “núi cát” của đời sống thực tế để đưa nó vào thơ. Đó cũng là lí do vì sao thơ Nguyễn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Duy sáng tác có bản sắc riêng của mình, không biến dạng, không pha tạp do hoàn cảnh sống. Do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử và sự vận động trong ý thức của chủ thể nhà thơ, hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Duy có thể chia làm hai giai đoạn: trước những năm 1975 và sau những năm 1975.
Việc phân chia như vậy là vì sau những năm 1975, thơ Nguyễn Duy mới có những chuyển biến đáng kể thể hiện ở tất cả các cấp độ: cảm hứng chủ đạo, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu. Ở sự chuyển biến trong sáng tác của Nguyễn Duy trước và sau những năm 1975 chỉ là sự chuyển biến mang tính tiếp nối, không phải là những bước ngoặt đưa thơ ông rẽ sang những hướng đi khác, bởi về cơ bản, các sáng tác của ông luôn nhất quán dưới sự chi phối mạnh mẽ của triết lí nhân sinh: “Ta là dân- vậy thì ta tồn tại”. Đây cũng chính là quan niệm trong tư tưởng sáng tác của Nguyễn Duy, nó là kim chỉ nam cho hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ, mặc dù trong nghệ thuật quan niệm của người nghệ sĩ không phải nhất thành bất biến, song ở Nguyễn Duy cái quan niệm ấy càng về sau càng sắc nét, rõ ràng, tường minh hơn và trên hết là quan niệm đó được hiện thực hóa trong suốt hành trình sáng tạo của nhà thơ. Giai đoạn trước 1975 Với sự ra đời của các tác phẩm như: Trận địa tím (1969), Khẩu súng trên tay ta (1970), Khúc hát dân ca (1970), Tiếng hát mùa gặt (1971)… Đặc biệt là tác phẩm: Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm (chùm tác phẩm đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ 1972 - 1973 ) Nguyễn Duy mới được phát hiện trên thi đàn và tác phẩm của ông dần bộc lộ rõ một thế giới nội tâm có bản sắc để từ đó định hình một phong cách thơ.
Cát trắng là tập thơ đầu tay của Nguyễn Duy. Ở tập thơ đầu tay này, Nguyễn Duy đã khẳng định được diện mạo riêng, nét đặc sắc riêng của thơ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Với Cát trắng Nguyễn Duy được đánh giá là một nhà thơ có tiềm năng. Trong tập thơ này Nguyễn Duy viết rất nhiều bài thơ về đề tài người lính, về những điều ông cảm nhận được trên các nẻo đường chiến tranh như: Hầm chữ A, Chiều khẩu đội, Bầu trời vuông, Cát trắng, …Bên cạnh đó là một số bài Nguyễn Duy viết về tình yêu và lẽ sống ở đời: Nhớ, Xó bếp, Hơi ấm ổ rơm,… Bước chân ra khỏi đường làng, bắt đầu nếm trải và lăn lộn với cuộc sống, Nguyễn Duy trở thành người lính, trải qua những buồn vui, những thời khắc sống chết trong những năm tháng chiến đấu ở chiến trường ông đã được mở rộng thế giới quan để từ đó đón nhận vào tâm hồn mình những buồn vui, những mật ngọt và cả những đắng cay của cuộc sống.
Thơ của Nguyễn Duy được viết ra vừa là để trang trải “món nợ” với đời, vừa là những bước chân trên chặng đường dài tự tìm và tự khẳng định mình. Tập thơ Cát trắng ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt. Lúc này văn học nói chung và thơ ca nói riêng đều lấy cảm hứng từ cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân để sáng tác. Vì vậy tập thơ này cũng cũng mang âm hưởng chung của dân tộc và thời đại.
Tập thơ này có nhiều bài được Nguyễn Duy viết để khẳng định lý tưởng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định sức mạnh dân tộc, và sức mạnh của toàn dân như : Tre Việt Nam, Giọt nƣớc mắt và nụ cƣời, Cát trắng… Ở bài Tre Việt Nam hình ảnh của cây tre đã được hình tượng hoá bằng hình ảnh thơ biểu trưng cho sức mạnh, tâm hồn và phẩm chất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Ra đời trong hoàn cảnh cả nước đang ra sức lao động và chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ, Tre Việt Nam là một bài thơ thể hiện tiếng nói bình tĩnh lạc quan, khẳng định tư thế chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách của kẻ thù. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với bài thơ Giọt nƣớc mắt và nụ cƣời, người đọc cảm nhận được sức mạnh, phẩm chất, tâm hồn con người Việt Nam thể hiện qua hình ảnh một con người cụ thể. Đó là hình tượng người chính uỷ trong chiến tranh: Giọt nƣớc mắt đã già nhƣ tuổi Riêng nụ cƣời là vẫn trẻ trung.
(Giọt nƣớc mắt và nụ cƣời) Cát trắng là một trong những bài thơ tiêu biểu, được tác giả lấy tên đặt cho cả tập thơ: Chiều nay tôi về biển Gio Linh Vốc nắm cát soi Cát trắng ánh lên màu đỏ. (Cát trắng) Bài thơ đã diễn tả được những hy sinh mất mát của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đồng thời nó cũng khẳng định ý chí quật cuờng, quyết tâm đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và tinh thần sống bất diệt của cả dân tộc Việt Nam. Bên cạnh việc khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định sức mạnh dân tộc nhân dân, tập thơ Cát trắng còn khẳng định sự gắn bó của tình quân dân, tình đồng chí trong những bài thơ tiêu biểu như : Hơi ấm ổ rơm, Bát nƣớc ngô của ngƣời mẹ Việt ở Cam Lộ, Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh,… Viết về tình quân dân, về sự che chở, đùm bọc của nhân dân với các chiến sỹ trong mọi hoàn cảnh được Nguyễn Duy thể hiện rõ nét qua Hơi ấm ổ rơm.
Bài thơ là dòng tâm sự chân tình, nhỏ nhẹ, sâu lắng nhưng lại có tầm tư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tưởng lớn. Nhà thơ - người chiến sĩ ấy cảm nhận được tình quân dân sâu sắc đó trong những hoàn cảnh đặc biệt, ông kết thúc tác phẩm bằng một triết lý: Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no Riêng cái ấm nồng nàn nhƣ lủa Cái mộc mạc lên hƣơng của lúa Đâu dễ chia cho tất cả mọi ngƣời. (Hơi ấm ổ rơm) Nếu hai bài thơ Hơi ấm ổ rơm, Bát nƣớc ngô của ngƣời mẹ Việt ở Cam Lộ nói về tình quân dân thắm thiết, tình nghĩa thì bài thơ Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh lại nói về tình đồng chí tương thân tương ái, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau trong mọi hoàn cảnh: Hai thế hệ chia nhau cái rét tập đoàn Da thịt lại đắp lần da thịt. (Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh) Như vậy cùng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh dân tộc nhân dân và nhất là sự gắn bó cá nhân với cộng đồng, tình quân dân, tình đồng chí, nhân ta đã đấu tranh và chiến thắng thắng kẻ thù xâm lược, trong đó có đế quốc Mỹ.
Đồng thời nó cũng làm thành cảm hứng sử thi trong văn học chống Mỹ nói chung và trong tập thơ Cát trắng của Nguyễn Duy nói riêng. Thơ Nguyễn Duy viết trong tập Cát trắng là sản phẩm từ cảm hứng yêu nước, tự hào cách mạng, nhưng ngôn ngữ rất giản dị, trong sáng. câu thơ như lời nói tự nhiên mộc mạc, ân tình. Giọng điệu này, thường bắt gặp trong thơ chống Mỹ lúc bấy giờ.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy rất gần với ca dao, tạo thành giọng điệu thơ đằm thắm, thể hiện một tâm trạng tràn đầy yêu thương. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời kỳ này trong thơ Nguyễn Duy đã ghi dấu giọng điệu triết lý. Để thể hiện giọng điệu triết lý ấy, nhà thơ thường dùng ngôn ngữ giàu hình tượng với từ ngữ gợi cảm, liên tưởng. Cách sử dụng ngôn ngữ kiểu như thế ta bắt gặp ở rất nhiều các bài thơ khác như: Tre Việt Nam, Khúc dân ca, Võng trăng, Hơi ấm ổ rơm, Tiếng chim bạn bè… Tóm lại, trước năm 1975, thơ trữ tình Nguyễn Duy mang nặng ý thức trách nhiệm của thế hệ trước vận mệnh của tổ quốc.
Những vần thơ được sinh ra từ lửa đạn, mang theo hơi thở của chiến trường, mang theo nhịp đập của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi. Cái tôi ấy cũng trăn trở, suy ngẫm nhưng vẫn mang nhiều mầu sắc sử thi. Để chuyển tải nội dung thơ mang cảm hứng sử thi, tác giả đã sử dụng bút pháp lãng mạng cách mạng. Trong đó điểm nhấn là lớp ngôn ngữ giản dị nhưng vẫn bay bổng, giàu tính nhạc, tính biểu cảm.Giai đoạn sau 1975 Xu hướng chung của quá trình vận động thơ ca Việt Nam từ sau 1975 là đi từ cảm hứng sử thi đến cảm hứng thế sự, đời tư.