Luận Văn Thạc Sĩ: Khám Phá Cảm Hứng Nghệ Thuật Trong Thơ Tản Đà

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cảm hứng nghệ thuật trong thơ tản đà, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án thạc sĩ

2000

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cảm hứng nghệ thuật trong thơ Tản Đà

Cảm hứng nghệ thuật là yếu tố trung tâm trong thơ Tản Đà, thể hiện qua sự kết hợp giữa nghệ thuật ngôn từcảm xúc sâu sắc. Thơ ông mang đậm dấu ấn của cảm hứng dân tộccảm hứng lãng mạn, phản ánh tâm hồn phóng khoáng và tư tưởng độc đáo. Tản Đà không chỉ là nhà thơ của nghệ thuật trong thơ mà còn là người mở đường cho Thơ Mới với sự cá nhân hóa cảm hứng.

1.1. Cảm hứng dân tộc

Cảm hứng dân tộc trong thơ Tản Đà được thể hiện qua tình yêu quê hương, lòng tự hào về truyền thống anh hùng và sự kêu gọi đoàn kết dân tộc. Ông viết về nỗi sầu non nướcniềm tiếc nuối trước cảnh đất nước bị xâm lăng. Thơ Tản Đà còn phản ánh tình thương dân của một nhà nho yêu nước, với thái độ phê phán xã hội đương thời.

1.2. Cảm hứng lãng mạn

Cảm hứng lãng mạn trong thơ Tản Đà thể hiện qua cái 'tôi' xê dịch'tôi' đa tình. Ông là nhà thơ đầu tiên đưa cái 'tôi' cá nhân vào thơ Việt Nam, tạo nên sự độc đáo và mới mẻ. Thơ Tản Đà mang đậm tính lãng mạn thoát ly, với những giấc mộng và khát vọng vượt khỏi thực tại.

II. Nghệ thuật trong thơ Tản Đà

Nghệ thuật trong thơ Tản Đà được thể hiện qua sự tinh tế trong sử dụng ngôn từ và hình ảnh. Ông kết hợp giữa truyền thốnghiện đại, tạo nên phong cách độc đáo. Thơ Tản Đà không chỉ là sự phản ánh cảm xúc mà còn là sự kết hợp giữa nghệ thuật ngôn từtư tưởng sâu sắc.

2.1. Ngôn ngữ và hình ảnh

Ngôn ngữ thơ Tản Đà giàu hình ảnh và âm điệu, tạo nên sự du dươngmê hoặc. Ông sử dụng những hình ảnh lờ mờmơ mộng, tạo nên sự huyền ảo trong thơ. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm như 'Khối Tình Con''Giấc Mộng Con'.

2.2. Kết hợp truyền thống và hiện đại

Tản Đà là cầu nối giữa thơ cũthơ mới, với sự kết hợp giữa truyền thốnghiện đại. Ông vừa giữ được những giá trị của thơ Đường luật, vừa mở ra những cách tân trong thi phápcảm hứng. Điều này làm nên vị trí đặc biệt của Tản Đà trong lịch sử văn học Việt Nam.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Luận văn thạc sĩ về thơ Tản Đà không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu về cảm hứng nghệ thuậtnghệ thuật trong thơ Tản Đà giúp hiểu sâu hơn về sự phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Đồng thời, nó cung cấp cơ sở cho việc phân tích thơnghiên cứu văn học hiện đại.

3.1. Giá trị học thuật

Luận văn đóng góp vào việc làm sáng tỏ cảm hứng nghệ thuậtnghệ thuật trong thơ Tản Đà, giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng và phong cách của ông. Nghiên cứu này cũng góp phần vào việc đánh giá lại vị trí của Tản Đà trong lịch sử văn học Việt Nam.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong giảng dạy văn học Việt Nam, đặc biệt là trong việc phân tích thơ Tản Đà. Nó cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành văn học.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ cảm hứng nghệ thuật trong thơ tản đà

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu B/ Phần nội dung, gồm 3 chƣơng: I. Cuộc đời và sự nghiệp Tản Đà. Những sự kiện ảnh hƣởng đến cảm hứng sáng tác II. Cảm hứng dân tộc III.

Cảm hứng lãng mạn C/ Kết luận 14 B. NỘI DUNG CHƢƠNG I: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƢƠNG. NHỮNG SỰ KIỆN ẢNH HƢỞNG ĐẾN CẢM HỨNG SÁNG TÁC. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 25/5/1889 (tức ngày 20/4, năm Kỷ Sửu) và mất ngày 7/6/1939 (cũng nhằm ngày 20/4 năm Kỷ Mão); quê gốc tại làng Khê Thƣợng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Khê Thƣợng là một làng trung du nhỏ mà trù phú bên sông Đà, cách núi Tản Viên 10 km đƣờng chim bay. Nay Khê Thƣợng nhập với một số xã khác trở thanh xã Sơn Đà thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội. Vốn gắn bó, yêu mến quê bƣơng, nơi chốn nhau cắt rún, nên Nguyễn Khắc Hiệu đã ghép hai danh từ núi Tản và sông Đà để dùng làm bút hiệu: Tản Đà.

Nguyễn Khắc Hiếu thuộc một dòng họ khoa bảng lâu đời, trƣớc ở làng Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội, có sông Tô Lịch chảy qua. Nay nhà thờ tổ vẫn còn ở đấy, đƣợc xếp vào di tích liệt hạng, vì có nhiều nhân vệt lịch sử và danh nhân văn hóa của đất nƣớc nhƣ ông Nguyễn Công Thế (Kiều Quận Công - Thƣợng Thƣ Bộ Lễ, có công đấu tranh chống nhà Thanh bảo vệ biên cƣơng); Nguyễn Văn Siêu (cây bút tài hoa mà Tự Đức từng ca ngợi, cùng với Cao Bá Quát). 15 Xuất thân từ một gia đình phong kiến quan lại suy tàn, cụ thân sinh Nguyễn Khắc Hiếu là Nguyễn Danh Kế đã làm ngƣợc lại ý ông cha (không tham gia cử nghiệp), ra ứng thí và đỗ cử nhân triều Tự Đức. Cụ bắt đầu con đƣờng làm quan từ tri huyện Nam Sang, tri phủ Lý Nhân, đến án sát Ninh Bình.

Nguyễn Danh Kế là một bậc danh nho, làm quan có tiếng thanh liêm và rất thƣơng dân. Ông còn mang cốt cách một nhả nho tài tử, nên trong chốn bình khang đã gặp và lấy một ngƣời làm vợ thứ ba (khi ông làm tri phủ Xuân Trƣờng). Đó lả một đào nƣơng tài sắc, có nhân cách, phong lƣu, từng làm nhiều thơ; ở phố Hàng Thao - Nam Định, tên Nhữ Thị Nghiêm (có sách ghi tên Lƣu Thị Hiền), đƣợc gọi là bà Phủ Ba. Cuộc hôn nhân giữa hai ngƣời tài tử ấy đã sinh ra (Nguyễn Khắc Hiếu.

Ông là con thứ tƣ (con út) của bà Nghiêm, là con trai thứ 11 của ông Kế. Lúc ấu thơ đƣợc gọi là "Ấm Cứu", khi thi ấm sinh mới đổi là "Ấm Hiếu" - Nguyễn Khắc Hiếu. Có hai ngƣời anh cùng cha khác mẹ: ngƣời anh cả Nguyễn Tái Tích, ngƣời anh thứ là Nguyễn cổn. Ông còn có một ngƣời anh cùng mẹ khác cha là Nguyễn Mạnh.

Bà Phủ ba có hai ngƣời con gái và ngƣời sau tên là Trang (chị của Tản Đà). Lần theo bƣớc chân, cuộc đời Nguyễn Khắc Hiếu ta sẽ biết những chặng đƣờng, những thăng trầm trong văn nghiệp của ông; sự tác động của cuộc sống đến văn nghiệp đó. Năm Nguyễn Khắc Hiếu lên 3 tuổi, bố mất (l891). Năm lên 4, bà Phủ Ba vì một sự bất hòa trong gia đình, đem ngƣời con gái út (cô Trang) ra đi và tìm về nghề cũ với tiếng đàn câu hát, khi Hà Nội, khi Bắc Ninh.

Hành động của bà đối với gia đình nhà nho là không thể chấp nhận đƣợc, làm cho Nguyễn Khắc Hiếu từ đây về sau vô cùng đau đớn; vết thƣơng lòng của tuổi trẻ đã ảnh hƣởng rất nhiều đến cuộc đời ông sau này. Những nỗi buồn thấm thía mà ta tìm thấy bàng bạc trong lời thơ Tản Đà, có lẽ một phần lớn do nguyên nhân này mà ra! Tình mẫu tử bị chia ly ngay từ tấm bé đã khiến cho nhà thơ lãng mạn đầu thế kỷ XX lúc nào cũng thấy đời mình thiếu thốn một tình thƣơng, một nguồn an ủi mà thi sĩ không tìm thấy ở bất cứ đâu! Tâm trạng đau lòng ấy đã khiến trong tác phẩm Tản Đà những bài có giọng cảm 16 thƣơng thân phận ngƣời ca kỹ (Cánh bèo, Đời đáng chán. Ngƣời anh cả của Nguyễn Khắc Hiếu là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng ra làm tri huyện, rồi thăng chức đốc học. Nguyễn Khắc Hiếu đã đƣợc ông này nuôi dƣỡng, dạy dỗ và rèn luyện theo đƣờng cử nghiệp.

Ông Nguyễn Cổn đỗ tú tài; ông Nguyễn Mạn làm lục sự, giỏi khoa hà lạc lý số và nghề thuốc - chính nhờ ông này kèm cặp mà về sau trong những lúc lỡ vận, Tản Đà có tài mọn để kiếm tiền đắp đổi qua ngày (xem số hà lạc). Theo lời kể của Tản Đà (Giấc mộng lớn), lúc lên 5 tuổi ở Nam Định học chữ Hán (Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi. Tự thuở ấu thơ đã bộc lộ cái bệnh đa tình bẩm sinh, cái lòng mê khoa cử cũng từ đấy "do thích nhất trong sách cổ Hán văn là 2 câu: Hoa cù hồng phấn nữ, tranh khán lục y lang - Đƣờng hoa gái đẹp má hồng, tranh nhau mà ngắm các chàng áo xanh hơn 10 tuổi thông thuộc Hán văn, 14 tuổi tập làm thơ. Nguyễn Khắc Hiếu đƣợc ông phó bảng Nguyễn Tái Tích đặt nhiều hi vọng đỗ đạt cao để làm rạng rỡ tông môn.

Nhƣng ngƣời theo Tây học ngày càng đông. Hán học dần không còn thích hợp, chữ Quốc ngữ đƣợc đem ra áp dụng trong chƣơng trình giáo dục cùng lúc với chữ Pháp. Năm 16, 17 tuổi trở đi, Nguyễn Khắc Hiếu làm quen với Quốc ngữ. Ông Tích về làm đốc học ở Hà Nội, gặp lúc nhà nƣớc mở trƣờng Tân Quy dạy chữ quốc ngữ cho nho sĩ, Nguyễn Khắc Hiếu đƣợc theo anh về học ở trƣờng này.

Trong dịp học ở Tân Quy, ông có viết bài luận "Âu - Á nhị châu hiện thế" khiến cả thầy và bạn hoan nghênh tán thƣởng. Bài này đƣợc một phóng viên Trung Quốc ở Hà Nội gởi về nƣớc đăng trên một tờ báo. Cùng lúc, phong trào cổ súy quốc học của Đông Kinh Nghĩa Thục đang sôi nổi, phong trào báo chí cũng manh nha (ra đời các tờ Đăng Cổ tùng báo, Đại Việt tân báo.), tƣ tƣởng cải lƣơng về canh tân xẫ hội nổi lên, nhất là ở thành thị. Lúc theo học trƣờng Tân Quy, vốn là kẻ đa tình, Nguyễn Khắc Hiếu đang ở phố Hàng Nón thƣờng gặp cô Đỗ Thị bán sách ở phố Hàng Bồ là ngƣời có nhan sắc, biết cả chữ Quốc ngữ và thơ.

Từ giao tế đến trao đổi tâm tình, đã thật là "tình trong nhƣ đã. mặt ngoài còn e", 17 khách đa tình đã muốn thả lá đề thơ nhƣng còn ngần ngại. Ngƣời anh rể của ông là Nguyễn Thiện Kế (một nhà thơ trào phúng) rất quý mến cậu em vợ, biết chuyện liền đến dạm hỏi Đỗ Thị cho Nguyễn Khắc Hiếu, mới hay nàng Đỗ và nghiêm phụ chỉ muốn kết duyên với ngƣời đỗ cử nhân, hàng tri huyện mà thôi: Dùng chức ấm sinh ông Hiếu hăm hở thi vào trƣờng Hậu Bổ để mong hài lòng ngƣời ngọc. Từ 1909, 1911, 1912, mấy lần ông Hiếu đều thi hỏng, thế là "duyên trái Hà Thành, thi bay Nam Định".

Từ Nam Định về Hà Nội trong nỗi thất bại chua cay, Nguyễn Khắc Hiếu đã chứng kiến cảnh Đỗ Thị đi lấy ngƣời khác - một cậu cả con quan Huyện Nguyễn. Đây là sự kiện đau lòng thứ hai có ảnh hƣởng đến tâm hồn của nhà thơ sau này: thất bại cử nghiệp, thất chí và thất tình! Mối tình tan vỡ đặc biệt còn ám ảnh thi nhân mãi về sau, một con ngƣời giàu tình cảm nhƣng lại thiếu vắng tình cảm và đau đớn vì tình cảm: Vì ai cho tớ phải lênh đênh Nặng lắm ai ơi một gánh tình ! Nguyễn Khắc Hiếu tƣởng chừng trở nên điên loạn, đan xót vô hạn khiến ông bỏ lên Hoà Bình. tìm cảnh sơn cƣớc để có thể quên mối sầu tình tan vỡ. Sau ông lại về cố hƣơng, nhƣng cái sầu trong khung cảnh tĩnh mịch lại nhƣ tăng thêm độ.

Để đỡ ƣu phiền, ông rủ ngƣời bạn là tú tài Nghiêm Phúc Đồng đi thảm chùa Non Tiên, rồi tế Chiêu Quân nhƣ muốn tỏ lòng đồng điệu với những kẻ đau khổ nhƣ mình: Cô ơi, cô đẹp nhất đời Mà cô mệnh bạc thợ trời cũng thua. Muốn đồng cảm với một tâm hồn tận thuở xa xƣa, thi sĩ lại chạnh lòng buông những lời ai oán, trong cảnh ngộ cô đơn, tâm tƣ tiếc nuối: Ái ân thôi có ngần này Thề nguyền non nƣớc hẹn ngày tái sanh. 18 Ông sống "khổ hạnh" 3 tháng ở ấp Cổ Đằng, Sơn Tây; dƣ âm nỗi buồn chƣa dứt! Và sau những nỗi sầu đau, những dòng thơ bắt đầu một thi nghiệp từ 1913 đã phôi thai cho dấu ấn của thiên tài. Một bài thơ yết hậu ghi nhận một bút hiệu để mở đầu cho tên tuổi một con ngƣời: Văn chƣơng thời nôm na Thú vui có sơn hà Ba Vì ở trƣớc mặt Hắc Giang bên cạnh nhà.

Tản Đà! Lang thang uống rƣợu, làm thơ thƣởng trăng cũng vợi buồn, Nguyễn Thiện Kế đƣa Tản Đà về nghĩ ở nhà Bạch Thái Bƣởi - một nhà tử sản dân tộc lúc đó. Ở đây, Tản Đà có dịp đọc Tân thƣ (qua tiêng Hán từ đó nhen nhóm một hoài bão, một lý tƣởng có chiều mới mẻ, gạt bỏ con đƣờng cử nghiệp. Thế là, Tản Đà dần tỉnh ngộ giấc mơ "mũ bạc lọng xanh" và xoay hƣớng sang con đƣờng viết văn làm báo, dựng sự nghiệp tinh thẩn với xã hội. Năm 1915 lấy vợ, sau đó 1916 ông Nguyễn Tái Tích mất, cuộc sống giục Tản Đà chính thức bƣớc vào làng văn.

Ông bắt buộc phái lăn thân vào đời, dùng văn thơ để mƣu sinh và nuôi nấng vợ con. Đầu tiên, với bút danh Tản Đà, ông gởi đăng những bài luận thuyết văn xuôi ngắn trên Đông Dƣơng tạp chí, khoảng 1915. Ngƣời đọc biết đến cái tên Tản Đà khi thƣởng thức lối văn tài tử độc đáo và cái giọng ngông của tác giả. Không hợp tác chính thức đƣợc trên tờ Đông Dƣơng tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh, cũng chẳng thể hợp tác với tờ Nam Phong tạp chí của Phạm Quỳnh, Tản Đà cũng từ chối việc giám đốc trƣờng Hậu bổ gọi ông vào học (do mến tài ông) để có thể ra làm quan.

Ông tiếp tục làm văn, sáng tác thơ, viết báo "kiếm ăn xoàng". 19 Năm 1916, Tản Đà cho in tập thơ đầu tay Khối Tình Con; năm 1917 thêm tập ký sự Giấc Mộng Con. Tản Đà bắt đầu nổi tiếng. Năm 1918 ba tập Khối Tình bản chính, Khối Tình bản phụ, Khối Tình Con II (thơ) tiếp tục khẳng định một tài năng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cảm hứng nghệ thuật trong thơ Tản Đà - Luận văn thạc sĩ là một tài liệu chuyên sâu khám phá nguồn cảm hứng nghệ thuật độc đáo trong thơ ca của nhà thơ Tản Đà. Tài liệu này không chỉ phân tích sâu sắc các yếu tố văn hóa, tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến sáng tác của ông mà còn làm nổi bật sự kết hợp tinh tế giữa truyền thống và hiện đại trong thơ Tản Đà. Đọc tài liệu này, độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về phong cách thơ ca đặc trưng của một trong những nhà thơ tiên phong của văn học Việt Nam hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về ảnh hưởng văn hóa địa phương trong thơ ca, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ dấu ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn Thành Tứ Hữu. Tài liệu này sẽ mang đến cho bạn góc nhìn sâu sắc về cách văn hóa địa phương in dấu lên sáng tác của các nhà thơ, mở rộng hiểu biết của bạn về mối liên hệ giữa văn hóa và nghệ thuật.