Chương 1 CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1. Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng Quảng Nam – quê hương nhà chí sĩ thường được hình dung như là điểm giữa của chiếc đòn gánh – miền Trung, nơi mà bao đời phải oằn mình gánh hai thúng gạo ở hai đầu là hai miền Nam – Bắc. Đó còn là nơi thường xuyên hứng chịu những hà khắc của thiên nhiên, khí hậu. Thắng, làng quê nơi Huỳnh Thúc Kháng sinh ra và sống trọn vẹn trong thời niên thiếu là một làng hẻo lánh thuộc miền “nguồn” tây nam xứ Quảng, chung quanh đều rừng núi khô cằn.
Đây là một miền cách trở mọi giao thông, liên lạc với bên ngoài, nhân dân trong làng quanh năm phải lăn lộn trong cảnh sống “Lam sơn chướng khí”. Những nét phác hoạ trên đã phần nào lí giải được cốt cách, tình cảm con người xứ Quảng nói chung, và con người Huỳnh Thúc Kháng nói riêng. Đó là tính chịu thương chịu khó, can đảm, sẵn sàng làm việc nghĩa nhưng cũng lại là người “khô khan, tằn tiện, ương ngạnh, khảng khái,. Chính Huỳnh Thúc Kháng trong một lần tự họa chân dung mình đã thẳng thắn nói : “Tôi, một anh học trò, gốc sanh trưởng nhà nông nghèo trong thôn quê, đã là cái hoàn cảnh phác dã, thô vụng, khô khan, quê kệch, gia dĩ trời phú ham mê về sự học, nửa đời người tôi, ngoài thơ văn sách vở ra, gần như không có cái gì gọi là “mĩ cảm”.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam Nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, ngay từ những năm cuối thế kỉ XIX khi thực dân Pháp bắt đầu vào xâm lược nước ta, Nghệ – Tĩnh và Nam – Ngãi đã trở thành một “địa chỉ đỏ”, nơi xuất thân của rất nhiều lãnh tụ các cuộc khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu nhất là hai chí sĩ họ Phan : Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Hai vùng ấy cũng là những địa bàn diễn ra nhiều phong trào yêu nước và cách mạng nhất trong cả ba xứ, “kể cả khi các hoạt động cụ thể diễn ra trên một địa chỉ khác thì các chí sĩ của Nghệ – Tĩnh và Nam – Ngãi vẫn có một địa vị ít nhiều nổi trội”. “Nam – Ngãi và Nghệ – Tĩnh từ lúc nổ ra cuộc xâm lược và chống xâm lược Pháp vốn thường xuyên là những địa danh nổi tiếng cả nước về sự “ngạnh trực”, những nơi mà từ sĩ phu, thân hào cho đến người bình dân cùng đều nhiệt tình với quốc sự, hay có ý kiến khác, nhiều trường hợp là ngược lại với “sự chỉ đạo của cấp trên”, thậm chí ngược cả với ý chỉ của vua” [39]. Cốt cách xứ Quảng dường như đã nhiễm rất sâu vào Huỳnh Thúc Kháng, đến mức mà khi đi tìm lời giải đáp cho cá tính và cốt cách của nhà chí sĩ, người ta thường tìm về cội nguồn quê hương, mảnh đất Quảng Nam “Lam sơn chướng khí” nhưng cũng là nơi sản sinh ra những nhân vật kiệt hiệt nhất trong thời đại “mưa Âu gió Á”, cái “thế cục” đang quăng quật và rắp tâm vùi dập những kiếp người, và cao hơn, hạ gục cả một dân tộc giàu truyền thống.
Ở một bình diện nào đó, chúng ta có thể nói rằng, chính những biến loạn của đất nước, cùng sự thất bại “đầu rơi, máu chảy” của Nghĩa hội Quảng Nam hoạt động trong phong trào Cần vương mà ông tận mắt được chứng kiến từ thuở thiếu niên là một trong những yếu tố đẩy những nhà nho giàu tâm huyết và tinh thần tự nhiệm như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế,… “phải hiện diện giữa vòng xoáy của những cơn lốc ấy” với mong muốn tìm được một phương kế cho con đường giải phóng dân tộc. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam Là người con ưu tú của quê hương Nam – Ngãi, ngay từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã ham học, thông hiểu học thuyết của Nho gia. Tinh thần “khắc kỉ phục lễ” được ông tiếp thu và thực hành đến mức sâu đậm. Chính điều này đã tạo nên một Huỳnh Thúc Kháng vừa hết sức trang nghiêm, cẩn trọng, cương quyết, chân thành nhưng cũng lại tới tận mức bảo thủ, ương ngạnh,.
Đó chính là những nét tiêu biểu nhưng cũng là những điểm hạn chế trong tính cách con người Huỳnh Thúc Kháng. Từ những nét phác thảo trên ta thêm hiểu, vì sao trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà chí sĩ, dù luôn bị thực dân Pháp và tay sai tìm cách cám dỗ, mua chuộc ông vẫn vững vàng, kiên trung trên trận tuyến đầu trong cuộc chiến đấu chống quân thù, vẫn được quốc dân đồng bào ta ngưỡng vọng, hướng đến như một trong ít tấm gương trung nghĩa sáng ngời trong số những nho sĩ yêu nước tiêu biểu đầu thế kỉ XX. Có thể nói, trong cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như trong sáng tác văn học, Huỳnh Thúc Kháng đã luôn đứng ở vị trí trung tâm của cơn bão thời đại, trung tâm của công cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc và là một trong những cây bút tiêu biểu, quyền uy nhất trong số những nhà nho chí sĩ chọn con đường lập ngôn làm con đường nhập thế và tham gia tích cực vào quỹ đạo hiện đại hoá văn học nước nhà như một trong những cây bút tiên phong. Cuộc đời ông, sự nghiệp sáng tác văn chương của ông là một minh chứng đầy đủ nhất cho quan niệm : Giàu sang lợi lộc đừng ham Chông gai, cay đắng cũng cam một bề (Khuyên con đi học) Nét tính cách này in đậm trong con người thường nhật của ông và cũng là cơ sở để ta nói rằng nó in đậm trong dấu ấn sáng tạo văn chương của Huỳnh Thúc Kháng.
Ở chương sau của luận văn này chúng tôi sẽ có dịp đề cập sâu hơn vấn đề này. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 2. Con người và sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) còn có tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh, hiệu Minh Viên, quê làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay thuộc thôn I, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam. Tổ tiên ông vốn là người Bắc vào xứ Quảng lập nghiệp từ thế kỉ XIV, XV và chỉ đơn thuần làm nghê nông.
Tuy xuất thân từ gia đình nhiều đời làm nông, nhưng thân sinh Huỳnh Thúc Kháng lại mang giấc mộng khoa cử, đi thi vài lần nhưng không đỗ đạt gì, thêm vào đó những biến cố đau lòng của gia đình sau sự ra đi của hai người anh trai vốn nổi tiếng thông minh, ham học hỏi là những nguyên nhân thúc giục Huỳnh Thúc Kháng khắc kỉ đến cùng để theo đuổi nghiệp khoa cử, “trải trên 20 năm như một ngày theo khuôn khổ nghiêm huấn không lúc nào sai”. Chính nỗ lực không ngừng nghỉ ấy mà ngay từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi danh là một trong tam hùng xứ Quảng (Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu). Tuy vậy, mãi đến năm 29 tuổi (1904) ông mới đỗ tiến sĩ nhưng lại không lựa chọn con đường hoạn lộ mà cùng với các bạn đồng chí hướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp,. rẽ sang một hướng khác nhiều gian nan, cực nhọc hơn nhưng tiếng thơm lưu lại đến muôn đời : con đường hoạt động cách mạng.
Những năm cuối thế kỉ XIX, đất nước ta gần như chìm đắm trong vòng nô dịch cuả thực dân Pháp. Những biến động lớn lao trong đời sống xã hội cùng những biến cố từ bên ngoài bằng nhiều con đường được đưa vào Việt Nam đã thúc giục những nhân sĩ tâm huyết với dân tộc không thể mãi khoanh tay nhìn đất nước trong cảnh lầm than, cơ cực. Để cứu đất nước ra khỏi thực trạng bi thảm ấy, họ phải nhập cuộc với tất cả sự tự giác và nghị lực phi thường. Trong số không ít những khả năng hành chỉ đương thời, duy tân, tự cường là con đường được những chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp lựa chọn và theo đuổi.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam Đỗ đạt theo đúng ước nguyện thân phụ hằng gửi gắm nhưng khá đột ngột khi Huỳnh Thúc Kháng rẽ sang một bước ngoặt khác mà không vì bất kì một biến cố hay áp lực bên ngoài nào tác động vào. Đây là một sự lựa chọn dũng cảm, hoàn toàn chủ động có ý thức và có ý nghĩa bước ngoặt không chỉ đối với sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng mà còn đối với lịch sử dân tộc trong một giai đoạn có nhiều biến động lớn lao đầu thế kỉ XX. Sự kiện quan trọng này đã được lịch sử ghi nhận : “Người đỗ đạt mà không ra làm quan thì không phải đến thời điểm này mới có, nhưng đỗ chính thức đại khoa mà không ra làm quan thì những người như vậy trong lịch sử khoa cử Việt Nam không nhiều. Trước Nguyễn Thượng Hiền, tôi không nhớ được có yếu nhân nào đã từng làm như thế.
Sau Nguyễn Thượng Hiền, giờ tới lượt hai ông, nghè Ngô và nghè Huỳnh – những người cùng trang lứa (Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, Ngô Đức Kế sinh năm 1878), cùng tâm trạng và rồi, sẽ cùng chung nhiều chặng của số phận” [39].