Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940 - 1945 1. Lí luận chung về kịch 1. Khái niệm về “Kịch” “Kịch” là gì? Khái niệm về kịch được xác định trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” bộ mới như sau: “kịch là một trong ba loại hình văn học (bên cạnh tự sự và trữ tình). Kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học: nó là cơ sở đầu tiên của vở diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc”.[3, tr 740] Trong công trình Lý luận văn học, ở phần bàn luận về các loại thể văn học tác giả Lý Hoài Thu đã đưa ra khái niệm kịch được xác định ở hai cấp độ: “Ở cấp độ loại hình: Kịch là một loại hình nghệ thuật sân khấu, đồng thời là một trong ba phương thức phản ánh của văn học.
Sự tồn tại của phương thức kịch bên cạnh phương thức tự sự và trữ tình đã phản ánh quy luật tất yếu là văn học nghệ thuật phải tiếp cận và tái tạo hiện thực đời sống một cách toàn diện…Ở cấp độ loại thể, kịch được sáng tạo bởi nhà văn, là một thể loại gắn với một phương thức phản ánh tồn tạị độc lập – phương thức kịch. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật sân khấu khác như kịch múa (vũ kịch), kịch hát (nhạc kịch), kịch dân ca (ca kịch) và thậm chí cả kịch câm (pantômin), kịch nói (một cách gọi nôm na nhằm phân biệt với múa, hát) là một loại hình sân khấu mang tính đặc thù rõ rệt. Nếu chất liệu để người nghệ sĩ sáng tạo nên những tác phẩm vũ kịch là ngôn ngữ múa, nhạc kịch là ngôn ngữ âm nhạc… thì chất liệu để nhà viết kịch xây dựng nên tác phẩm kịch nói là ngôn ngữ văn học” [10, tr 260]. Khi xác định khái niệm như vậy tác giả cũng nhấn mạnh với tư cách là một thể loại văn học nằm trong loại hình nghệ thuật kịch thì kịch bản văn học chỉ thực sự được khai thác trọn vẹn khi được biểu diễn trên sân khấu.
Đời sống của kịch gồm hai chặng đường sáng tạo khác nhau: sáng tác kịch 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản văn học của nhà văn và lao động của những người nghệ sĩ sân khấu. Như vậy, kịch vừa thuộc về văn học, vừa thuộc về sân khấu. Các khái niệm trên đã chỉ ra những ý nghĩa nội hàm cơ bản nhất về kịch, song khi đề cập đến kịch chúng ta cần làm rõ vấn đề thực chất kịch là gì? Kịch khác với các thể loại tự sự và trữ tình ra sao? Xét về góc độ ngôn ngữ, kịch khác với trữ tình hay còn gọi thi ca rất rõ, tiếng nói của thơ ca là tiếng nói độc thoại, tiếng nói của con tim còn kịch chỉ có lời đối thoại, lời của nhân vật. Thể loại tự sự đa dạng hơn kịch, bên cạnh lời của nhân vật còn có lời người kể chuyện cùng tham gia vào quá trình dẫn dắt, miêu tả sự kiện.
Xét về nội dung, trữ tình thể hiện rõ nhất ở thơ trữ tình, đó là tiếng nói của cảm xúc, tâm trạng, suy tư. Thơ ca là thế giới các cung bậc cảm xúc, biểu hiện cho thế giới nội tâm, tâm hồn phong phú của con người. Kịch và trần thuật có điểm giống nhau là biểu hiện đời sống bằng những hành động, xung đột. Nhưng trong kịch hành động và xung đột tập trung cao hơn, hành động kịch giàu kịch tính và xung đột gay gắt, dữ dội.
Ở trần thuật sự kiện, hành động thường được mô tả, lí giải bằng các chi tiết cụ thể, những xung đột được tạo nên ở sự dẫn dắt câu chuyện còn trong kịch tất cả những vấn đề của cuộc sống con người: sự đời, tình người, những câu chuyện giản dị hay li kỳ rắc rối, những cảnh tượng êm đềm hay dữ dội, tính cách từ một chiều giản đơn đến đa dạng phức tạp… được thực hiện qua các dòng đối thoại của nhaan vật trong vở kịch. Các nhân vật liên tiếp, liên tiếp đối thoại với nhau và thực hiện những hành động. Người đọc kịch bản phải chú ý tới hành động và ngôn ngữ của nhân vật mới có thể hiểu được tâm lý, tính cách, ý nghĩ, suy tư hay tâm trạng, cảm xúc của nhân vật. Do trong kịch không hề có sự miêu tả cụ thể, tỉ mỉ về hành động.Gorki từng nói: “Kịch là hình thức văn học khó nhất bởi vì, như vừa trình bày ở trên, trong kịch tất cả đều phải được và chỉ được thể hiện bằng ngôn ngữ đối thoại thôi, mà điều đó thì ngay cả những nhà văn lão luyện đôi 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi cũng không phải là dễ thực hiện” [12, tr 132].
Nếu đọc thơ ta nắm bắt được thế giới nội tâm cảm xúc qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, tứ thơ hoặc có khi từ hoàn cảnh sáng tác bài thơ mà thấy được nội dung, ý nghĩa thì ở tác phẩm tự sự hệ thống hình tượng nhân vật và một chuỗi sự việc trong cốt truyện thể hiện tư tưởng của nhà văn. Với kịch, mọi thông điệp, tình cảm của tác giả chia sẻ với người đọc được thực hiện qua cách xây dựng nhân vật, tạo tình huống xung đột và cách lí giải mâu thuẫn xung đột. Như vậy kịch là một thể loại văn học phân biệt với các thể loại khác: tự sự và trữ tình. Khi đọc một văn bản kịch nghĩa là ta đang đọc một tác phẩm văn học mà phương thức biểu hiện của nó là ngôn ngữ đối thoại.
Có thể khẳng định đối thoại là đặc trưng cơ bản, đặc trưng số một của kịch. Những đặc trưng cơ bản kịch 1. Nhân vật kịch Nhân vật kịch chủ yếu được khắc họa bằng hành động. Qua hành động nhân vật bộc lộ tính cách của mình.
Tác giả Lý Hoài Thu trong cuốn Lý luận văn học đã khẳng định: “thế giới nhân vật kịch là thế giới con người khát khao hành động, cảm hóa, thuyết phục mang lại nhận thức cho độc giả, khán giả bằng hành động.”[10, tr 272] Do đặc trưng thể loại, nhân vật kịch không được khắc họa tỉ mỉ như các nhân vật trong tác phẩm tự sự dài, người viết kịch cũng không dùng lời kể để miêu tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật mà chỉ qua đối thoại và hành động, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật được thể hiện. Ở kịch nhân vật có được sự tập trung về một nét chủ đạo nào đó trong tính cách nên hình tượng nhân vật hiện lên có đường nét, sắc màu nổi bật hơn. Nhân vật trong kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Các thể loại văn học khác cũng thường có nội tâm nhân vật song ở kịch do hướng đến của kịch khi phản ánh đời sống là những mâu thuẫn xung đột, cho 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên nhân vật trong kịch có nhu cầu đấu tranh với nội tâm bản thân mình.
Các nhân vật nổi tiếng xưa nay như Prômêtê, Ơ đíp, Ăngtigôn, Mêđê trong bi kịch cổ Hi Lạp, những Hamlet, Ôtenlô, Rômeô, Giuliét, vua Lia của Shếxpia là những nhân vật đấu tranh nội tâm diễn ra mạnh mẽ. Hành động và cốt truyện kịch Trong đời sống con người “Kịch là một thể loại mang lại sự nhận thức thực tại thông qua yếu tố hành động” [10, tr 268]. Tất cả đời sống tinh thần của con người chỉ có thể biểu hiện qua hành động của nhân vật như: tư tưởng, tình cảm, tâm tư, suy nghĩ, ước mơ, lý tưởng…Từ hơn hai nghìn năm trước Aristole là người đầu tiên nêu ra hành động là đặc trưng của kịch. Vậy hành động là gì? Tại sao hành động kịch lại có vai trò quan trọng như vậy đối với kịch? Theo Hồ Ngọc trình bày trong cuốn “Nghệ thuật viết kịch”, trước tiên hành động là hình thức hoạt động của con người trong các mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên để nhằm đạt tới một mục đích gì, một kết quả gì.
Tức là cần chú ý tới tính chất có mục đích của hành động để phân biệt hành động với những hoạt động có tính chất thuần túy (cử chỉ, động tác, lời nói) của con người. Đó là cách hiểu hành động theo hướng khái quát. Trong quan niệm về hành động, tác giả còn lưu ý tới tính chất hữu cơ và hoàn chỉnh của hành động, có liên quan chặt chẽ tới tính chất sân khấu của kịch. Bởi một vở kịch không thể nào kéo dài hay mở rộng diện miêu tả như tiểu thuyết, người đi dự một tối kịch không thể xem nửa chừng ra về rồi hôm sau xem tiếp.
Cho nên nội dung kịch không được phép dài dòng mà cần phải cô đọng, hàm súc, chặt chẽ. Cốt truyện là nhằm triển khai xung đột trong kịch nên phải tập trung, không thừa, không thiếu. Cốt truyện và hành động trong kịch cũng cần phải thống nhất tập trung, đòi hỏi chi tiết, tình tiết, sự kiện bên cạnh sự ngắn gọn còn phải liên đới nhau một cách chặt chẽ, logic, tất yếu, tự nhiên. Cốt truyện 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được dẫn dắt theo quy luật nhân quả.
Tất cả những sự việc, chi tiết có liên quan đến các hành động chủ yếu của vở kịch đều có mối quan hệ nguyên nhân – kết quả của nhau, cùng nương dựa vào nhau, cái này phát triển thông qua cái khác. Một cốt truyện kịch chặt chẽ là khi vở kịch có các sự kiện, biến cố liên quan tới hành động cùng hướng về một chủ đề đã định, tất cả hành động cốt yếu thống nhất trong chủ đề đó. Những mối liên hệ phải thật chặt chẽ nhưng cũng không có nghĩa là quá tất yếu, hiển nhiên, tuần tự, đều đều, dễ làm ngấy khán giả. Khi nhân vật xuất hiện, bao giờ cũng dự báo về điều bất thường sắp xảy ra.
Nên trong kịch rất cần những chỗ ngoặt hợp lí gây bất ngờ, tạo hứng thú cho người xem kịch. Tác giả công trình Lí luận văn học của trường Đại học sư phạm cũng nhấn mạnh về yếu tố này như sau “Trong kịch nhất thiết phải có những chỗ ngoặt, những đoạn đột biến, những bước nhảy vọt bất ngờ gây hứng thú với người xem. Ở phương Tây từ lâu đã có lí thuyết 3S (Supense: làm cho người ta hoài nghi; Surprise: làm cho người ta ngạc nhiên; Satisfaction: làm cho người ta thỏa mãn)” [19, tr 405]. Trong công trình Nghệ thuật thi ca, khi nêu lên đặc trưng của kịch là hành động, Aristốt đã chỉ rõ: “Bi kịch là sự bắt chước một hành động quan trọng và hoàn chỉnh.
Hành động này có quy mô nhất định và nhờ vào ngôn ngữ” [1, tr 49].