Luận văn thạc sĩ về thi pháp kịch Việt Nam những năm 1940-1945

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh thi pháp kịch việt nam những năm 1940 1945 qua một số tác giả002, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

105
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc luận văn

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940 - 1945

1.1. Lí luận chung về kịch

1.2. Khái niệm về “Kịch”

1.3. Những đặc trưng cơ bản kịch

1.4. Kịch Việt Nam trước năm 1940 và kịch Việt Nam trong giai đoạn 1940 – 1945

1.4.1. Kịch Việt Nam trước 1940

1.4.2. Kịch Việt Nam trong giai đoạn 1940 – 1945

2. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT, KẾT CẤU, KHÔNG – THỜI GIAN TRONG KỊCH VIỆT NAM 1940 – 1945

2.1. Nhân vật kịch

2.2. Hành động nhân vật

2.3. Ngôn ngữ nhân vật

2.4. Kết cấu kịch

2.4.1. Tình huống kịch

2.4.2. Kết cấu chương hồi

2.5. Không – thời gian

2.6. Tiểu kết

3. THI PHÁP VÀ CÁC VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG KỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940 – 1945

3.1. Mâu thuẫn, xung đột kịch

3.1.1. Mâu thuẫn, xung đột về lợi ích

3.1.2. Mâu thuẫn, xung đột về giá trị

3.2. Các vấn đề tư tưởng cơ bản

3.2.1. Vấn đề quốc gia dân tộc

3.2.2. Vấn đề con đường tìm lí tưởng sống

3.2.3. Vấn đề con đường đi tìm hạnh phúc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940 1945

Giai đoạn 1940-1945 là một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực thi pháp kịch. Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của kịch Việt Nam, với nhiều tác phẩm nổi bật phản ánh những biến động xã hội và chính trị. Nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về nghệ thuật kịch mà còn về bối cảnh lịch sử, văn hóa của đất nước.

1.1. Đặc điểm nổi bật của kịch Việt Nam trong giai đoạn 1940 1945

Kịch Việt Nam trong giai đoạn này có những đặc điểm nổi bật như sự kết hợp giữa nghệ thuật sân khấutư tưởng chính trị. Các tác phẩm thường mang tính chất phản ánh hiện thực xã hội, thể hiện những khát vọng và nỗi đau của nhân dân trong bối cảnh chiến tranh.

1.2. Vai trò của các tác giả kịch nổi bật

Nhiều tác giả kịch tiêu biểu như Nguyễn Huy Tưởng, Phan Khắc Khoan đã có những đóng góp quan trọng cho thi pháp kịch. Họ không chỉ sáng tác mà còn định hình phong cách và tư tưởng cho kịch Việt Nam trong thời kỳ này.

II. Những thách thức trong nghiên cứu thi pháp kịch giai đoạn 1940 1945

Nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn 1940-1945 gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu hụt tài liệu và thông tin về các tác phẩm kịch. Hơn nữa, việc phân tích các tác phẩm trong bối cảnh lịch sử phức tạp cũng là một thách thức lớn.

2.1. Thiếu hụt tài liệu và thông tin

Nhiều tác phẩm kịch trong giai đoạn này không còn được lưu giữ, dẫn đến khó khăn trong việc nghiên cứu và phân tích. Điều này ảnh hưởng đến việc hiểu rõ hơn về thi pháp kịch và các vấn đề tư tưởng trong tác phẩm.

2.2. Bối cảnh lịch sử phức tạp

Bối cảnh lịch sử của giai đoạn 1940-1945 với nhiều biến động chính trị và xã hội đã tạo ra những khó khăn trong việc phân tích và đánh giá các tác phẩm kịch. Các nhà nghiên cứu cần phải xem xét kỹ lưỡng để không bỏ sót những yếu tố quan trọng.

III. Phương pháp nghiên cứu thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940 1945

Để nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn này, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phân tích văn bản, so sánh và đối chiếu là những phương pháp quan trọng giúp làm rõ các đặc điểm của kịch Việt Nam.

3.1. Phân tích văn bản kịch

Phân tích văn bản kịch giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc, nhân vật và ngôn ngữ trong các tác phẩm. Điều này cũng giúp làm nổi bật những đặc điểm nghệ thuật của kịch Việt Nam trong giai đoạn 1940-1945.

3.2. So sánh và đối chiếu các tác phẩm

So sánh và đối chiếu các tác phẩm kịch từ giai đoạn này với các giai đoạn khác giúp làm rõ sự phát triển và biến đổi của thi pháp kịch. Điều này cũng giúp nhận diện những xu hướng và phong cách sáng tác của các tác giả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thi pháp kịch giai đoạn 1940 1945

Nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn 1940-1945 không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng chương trình giảng dạy và tài liệu tham khảo cho sinh viên.

4.1. Giá trị trong giảng dạy văn học

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong giảng dạy văn học, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về thi pháp kịch và bối cảnh lịch sử của các tác phẩm. Điều này cũng giúp nâng cao khả năng phân tích và đánh giá tác phẩm của sinh viên.

4.2. Tài liệu tham khảo cho nghiên cứu

Nghiên cứu thi pháp kịch giai đoạn này có thể trở thành tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu và sinh viên trong việc tìm hiểu về kịch Việt Nam và các vấn đề tư tưởng trong văn học.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu thi pháp kịch Việt Nam

Nghiên cứu thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940-1945 mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học. Việc hiểu rõ hơn về thi pháp kịch sẽ giúp làm sáng tỏ những vấn đề tư tưởng và nghệ thuật trong các tác phẩm kịch.

5.1. Tóm tắt những đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của kịch Việt Nam trong giai đoạn 1940-1945, đồng thời làm rõ vai trò của các tác giả và tác phẩm tiêu biểu. Những đóng góp này sẽ giúp nâng cao nhận thức về giá trị của kịch trong văn học Việt Nam.

5.2. Triển vọng cho các nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu thi pháp kịch trong giai đoạn này mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác các khía cạnh khác nhau của kịch Việt Nam để làm phong phú thêm hiểu biết về văn học.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940 - 1945 1. Lí luận chung về kịch 1. Khái niệm về “Kịch” “Kịch” là gì? Khái niệm về kịch được xác định trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” bộ mới như sau: “kịch là một trong ba loại hình văn học (bên cạnh tự sự và trữ tình). Kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học: nó là cơ sở đầu tiên của vở diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc”.[3, tr 740] Trong công trình Lý luận văn học, ở phần bàn luận về các loại thể văn học tác giả Lý Hoài Thu đã đưa ra khái niệm kịch được xác định ở hai cấp độ: “Ở cấp độ loại hình: Kịch là một loại hình nghệ thuật sân khấu, đồng thời là một trong ba phương thức phản ánh của văn học.

Sự tồn tại của phương thức kịch bên cạnh phương thức tự sự và trữ tình đã phản ánh quy luật tất yếu là văn học nghệ thuật phải tiếp cận và tái tạo hiện thực đời sống một cách toàn diện…Ở cấp độ loại thể, kịch được sáng tạo bởi nhà văn, là một thể loại gắn với một phương thức phản ánh tồn tạị độc lập – phương thức kịch. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật sân khấu khác như kịch múa (vũ kịch), kịch hát (nhạc kịch), kịch dân ca (ca kịch) và thậm chí cả kịch câm (pantômin), kịch nói (một cách gọi nôm na nhằm phân biệt với múa, hát) là một loại hình sân khấu mang tính đặc thù rõ rệt. Nếu chất liệu để người nghệ sĩ sáng tạo nên những tác phẩm vũ kịch là ngôn ngữ múa, nhạc kịch là ngôn ngữ âm nhạc… thì chất liệu để nhà viết kịch xây dựng nên tác phẩm kịch nói là ngôn ngữ văn học” [10, tr 260]. Khi xác định khái niệm như vậy tác giả cũng nhấn mạnh với tư cách là một thể loại văn học nằm trong loại hình nghệ thuật kịch thì kịch bản văn học chỉ thực sự được khai thác trọn vẹn khi được biểu diễn trên sân khấu.

Đời sống của kịch gồm hai chặng đường sáng tạo khác nhau: sáng tác kịch 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản văn học của nhà văn và lao động của những người nghệ sĩ sân khấu. Như vậy, kịch vừa thuộc về văn học, vừa thuộc về sân khấu. Các khái niệm trên đã chỉ ra những ý nghĩa nội hàm cơ bản nhất về kịch, song khi đề cập đến kịch chúng ta cần làm rõ vấn đề thực chất kịch là gì? Kịch khác với các thể loại tự sự và trữ tình ra sao? Xét về góc độ ngôn ngữ, kịch khác với trữ tình hay còn gọi thi ca rất rõ, tiếng nói của thơ ca là tiếng nói độc thoại, tiếng nói của con tim còn kịch chỉ có lời đối thoại, lời của nhân vật. Thể loại tự sự đa dạng hơn kịch, bên cạnh lời của nhân vật còn có lời người kể chuyện cùng tham gia vào quá trình dẫn dắt, miêu tả sự kiện.

Xét về nội dung, trữ tình thể hiện rõ nhất ở thơ trữ tình, đó là tiếng nói của cảm xúc, tâm trạng, suy tư. Thơ ca là thế giới các cung bậc cảm xúc, biểu hiện cho thế giới nội tâm, tâm hồn phong phú của con người. Kịch và trần thuật có điểm giống nhau là biểu hiện đời sống bằng những hành động, xung đột. Nhưng trong kịch hành động và xung đột tập trung cao hơn, hành động kịch giàu kịch tính và xung đột gay gắt, dữ dội.

Ở trần thuật sự kiện, hành động thường được mô tả, lí giải bằng các chi tiết cụ thể, những xung đột được tạo nên ở sự dẫn dắt câu chuyện còn trong kịch tất cả những vấn đề của cuộc sống con người: sự đời, tình người, những câu chuyện giản dị hay li kỳ rắc rối, những cảnh tượng êm đềm hay dữ dội, tính cách từ một chiều giản đơn đến đa dạng phức tạp… được thực hiện qua các dòng đối thoại của nhaan vật trong vở kịch. Các nhân vật liên tiếp, liên tiếp đối thoại với nhau và thực hiện những hành động. Người đọc kịch bản phải chú ý tới hành động và ngôn ngữ của nhân vật mới có thể hiểu được tâm lý, tính cách, ý nghĩ, suy tư hay tâm trạng, cảm xúc của nhân vật. Do trong kịch không hề có sự miêu tả cụ thể, tỉ mỉ về hành động.Gorki từng nói: “Kịch là hình thức văn học khó nhất bởi vì, như vừa trình bày ở trên, trong kịch tất cả đều phải được và chỉ được thể hiện bằng ngôn ngữ đối thoại thôi, mà điều đó thì ngay cả những nhà văn lão luyện đôi 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi cũng không phải là dễ thực hiện” [12, tr 132].

Nếu đọc thơ ta nắm bắt được thế giới nội tâm cảm xúc qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, tứ thơ hoặc có khi từ hoàn cảnh sáng tác bài thơ mà thấy được nội dung, ý nghĩa thì ở tác phẩm tự sự hệ thống hình tượng nhân vật và một chuỗi sự việc trong cốt truyện thể hiện tư tưởng của nhà văn. Với kịch, mọi thông điệp, tình cảm của tác giả chia sẻ với người đọc được thực hiện qua cách xây dựng nhân vật, tạo tình huống xung đột và cách lí giải mâu thuẫn xung đột. Như vậy kịch là một thể loại văn học phân biệt với các thể loại khác: tự sự và trữ tình. Khi đọc một văn bản kịch nghĩa là ta đang đọc một tác phẩm văn học mà phương thức biểu hiện của nó là ngôn ngữ đối thoại.

Có thể khẳng định đối thoại là đặc trưng cơ bản, đặc trưng số một của kịch. Những đặc trưng cơ bản kịch 1. Nhân vật kịch Nhân vật kịch chủ yếu được khắc họa bằng hành động. Qua hành động nhân vật bộc lộ tính cách của mình.

Tác giả Lý Hoài Thu trong cuốn Lý luận văn học đã khẳng định: “thế giới nhân vật kịch là thế giới con người khát khao hành động, cảm hóa, thuyết phục mang lại nhận thức cho độc giả, khán giả bằng hành động.”[10, tr 272] Do đặc trưng thể loại, nhân vật kịch không được khắc họa tỉ mỉ như các nhân vật trong tác phẩm tự sự dài, người viết kịch cũng không dùng lời kể để miêu tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật mà chỉ qua đối thoại và hành động, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật được thể hiện. Ở kịch nhân vật có được sự tập trung về một nét chủ đạo nào đó trong tính cách nên hình tượng nhân vật hiện lên có đường nét, sắc màu nổi bật hơn. Nhân vật trong kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Các thể loại văn học khác cũng thường có nội tâm nhân vật song ở kịch do hướng đến của kịch khi phản ánh đời sống là những mâu thuẫn xung đột, cho 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên nhân vật trong kịch có nhu cầu đấu tranh với nội tâm bản thân mình.

Các nhân vật nổi tiếng xưa nay như Prômêtê, Ơ đíp, Ăngtigôn, Mêđê trong bi kịch cổ Hi Lạp, những Hamlet, Ôtenlô, Rômeô, Giuliét, vua Lia của Shếxpia là những nhân vật đấu tranh nội tâm diễn ra mạnh mẽ. Hành động và cốt truyện kịch Trong đời sống con người “Kịch là một thể loại mang lại sự nhận thức thực tại thông qua yếu tố hành động” [10, tr 268]. Tất cả đời sống tinh thần của con người chỉ có thể biểu hiện qua hành động của nhân vật như: tư tưởng, tình cảm, tâm tư, suy nghĩ, ước mơ, lý tưởng…Từ hơn hai nghìn năm trước Aristole là người đầu tiên nêu ra hành động là đặc trưng của kịch. Vậy hành động là gì? Tại sao hành động kịch lại có vai trò quan trọng như vậy đối với kịch? Theo Hồ Ngọc trình bày trong cuốn “Nghệ thuật viết kịch”, trước tiên hành động là hình thức hoạt động của con người trong các mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên để nhằm đạt tới một mục đích gì, một kết quả gì.

Tức là cần chú ý tới tính chất có mục đích của hành động để phân biệt hành động với những hoạt động có tính chất thuần túy (cử chỉ, động tác, lời nói) của con người. Đó là cách hiểu hành động theo hướng khái quát. Trong quan niệm về hành động, tác giả còn lưu ý tới tính chất hữu cơ và hoàn chỉnh của hành động, có liên quan chặt chẽ tới tính chất sân khấu của kịch. Bởi một vở kịch không thể nào kéo dài hay mở rộng diện miêu tả như tiểu thuyết, người đi dự một tối kịch không thể xem nửa chừng ra về rồi hôm sau xem tiếp.

Cho nên nội dung kịch không được phép dài dòng mà cần phải cô đọng, hàm súc, chặt chẽ. Cốt truyện là nhằm triển khai xung đột trong kịch nên phải tập trung, không thừa, không thiếu. Cốt truyện và hành động trong kịch cũng cần phải thống nhất tập trung, đòi hỏi chi tiết, tình tiết, sự kiện bên cạnh sự ngắn gọn còn phải liên đới nhau một cách chặt chẽ, logic, tất yếu, tự nhiên. Cốt truyện 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được dẫn dắt theo quy luật nhân quả.

Tất cả những sự việc, chi tiết có liên quan đến các hành động chủ yếu của vở kịch đều có mối quan hệ nguyên nhân – kết quả của nhau, cùng nương dựa vào nhau, cái này phát triển thông qua cái khác. Một cốt truyện kịch chặt chẽ là khi vở kịch có các sự kiện, biến cố liên quan tới hành động cùng hướng về một chủ đề đã định, tất cả hành động cốt yếu thống nhất trong chủ đề đó. Những mối liên hệ phải thật chặt chẽ nhưng cũng không có nghĩa là quá tất yếu, hiển nhiên, tuần tự, đều đều, dễ làm ngấy khán giả. Khi nhân vật xuất hiện, bao giờ cũng dự báo về điều bất thường sắp xảy ra.

Nên trong kịch rất cần những chỗ ngoặt hợp lí gây bất ngờ, tạo hứng thú cho người xem kịch. Tác giả công trình Lí luận văn học của trường Đại học sư phạm cũng nhấn mạnh về yếu tố này như sau “Trong kịch nhất thiết phải có những chỗ ngoặt, những đoạn đột biến, những bước nhảy vọt bất ngờ gây hứng thú với người xem. Ở phương Tây từ lâu đã có lí thuyết 3S (Supense: làm cho người ta hoài nghi; Surprise: làm cho người ta ngạc nhiên; Satisfaction: làm cho người ta thỏa mãn)” [19, tr 405]. Trong công trình Nghệ thuật thi ca, khi nêu lên đặc trưng của kịch là hành động, Aristốt đã chỉ rõ: “Bi kịch là sự bắt chước một hành động quan trọng và hoàn chỉnh.

Hành động này có quy mô nhất định và nhờ vào ngôn ngữ” [1, tr 49].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thi pháp kịch Việt Nam giai đoạn 1940-1945" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của kịch nghệ Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố thi pháp mà còn khám phá cách mà kịch nghệ phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về vai trò của kịch trong việc hình thành tư tưởng và văn hóa dân tộc, cũng như cách mà nghệ thuật có thể trở thành công cụ đấu tranh.

Để mở rộng kiến thức về văn học và nghệ thuật trong cùng thời kỳ, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hình tượng người đảng viên cộng sản nga trong tiểu thuyết đất vỡ hoang của m sôlôkhôp, nơi khám phá hình tượng người đảng viên trong văn học. Bên cạnh đó, tài liệu 13 năm tranh luận văn học 1932 1945 phần 1 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các cuộc tranh luận văn học trong giai đoạn này. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ ussh quan niệm tính đảng trong văn học việt nam giai đoạn 1945 1975, giúp bạn hiểu rõ hơn về quan niệm tính đảng trong văn học Việt Nam sau năm 1945. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan và mở rộng kiến thức của mình.