Luận văn thạc sĩ: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986 - 1996

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986-1996, nêu bật những thay đổi quan trọng.

Chuyên ngành

Quan Hệ Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn ThS
110
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 1996

1.1. TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC

1.2. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC

2. CHƯƠNG 2: SỰ ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 1996

2.1. Quá trình điều chỉnh chính sách

2.2. Những hoạt động ngoại giao chủ yếu

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 1996

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng quan về quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam 1986 1996

Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986-1996 diễn ra trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động. Sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ cả bên trong và bên ngoài. Chính sách đối ngoại đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

1.1. Những yếu tố tác động đến chính sách đối ngoại Việt Nam

Nhiều yếu tố đã tác động đến quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam, bao gồm tình hình quốc tế, sự thay đổi trong quan hệ với các nước lớn, và những thách thức nội bộ. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã tạo ra một môi trường mới, buộc Việt Nam phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại để tìm kiếm cơ hội hợp tác và phát triển.

1.2. Tình hình quốc tế và khu vực trong giai đoạn 1986 1996

Giai đoạn này chứng kiến nhiều biến động lớn trong quan hệ quốc tế, từ sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đến sự gia tăng của các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã phải điều chỉnh chính sách đối ngoại để thích ứng với những thay đổi này, từ việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia đến việc tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế.

II. Những thách thức trong quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam

Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại, bao gồm sự cô lập quốc tế, các mối quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng, và những khó khăn trong việc xây dựng hình ảnh quốc gia. Những thách thức này đã yêu cầu Việt Nam phải có những bước đi chiến lược để vượt qua.

2.1. Sự cô lập và bao vây của các nước lớn

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã phải đối mặt với chính sách bao vây và cấm vận từ Mỹ và các nước phương Tây. Điều này đã tạo ra nhiều khó khăn cho nền kinh tế và chính trị của đất nước, buộc Việt Nam phải tìm kiếm các đối tác mới và mở rộng quan hệ ngoại giao.

2.2. Quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng

Việt Nam cũng đã gặp phải những căng thẳng trong quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc và Campuchia. Những mâu thuẫn này đã ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Việt Nam, yêu cầu phải có những điều chỉnh linh hoạt để duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

III. Phương pháp điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam 1986 1996

Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để điều chỉnh chính sách đối ngoại trong giai đoạn này. Những phương pháp này bao gồm việc tăng cường ngoại giao đa phương, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, và tham gia vào các tổ chức quốc tế.

3.1. Tăng cường ngoại giao đa phương

Việt Nam đã chủ động tham gia vào các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, và Liên Hợp Quốc. Điều này không chỉ giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế mà còn tạo cơ hội hợp tác với các quốc gia khác trong nhiều lĩnh vực.

3.2. Thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

Việt Nam đã tìm kiếm và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia lớn, nhằm tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh. Những quan hệ này đã giúp Việt Nam có thêm nguồn lực và hỗ trợ trong quá trình phát triển.

IV. Thành tựu trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986 1996

Giai đoạn 1986-1996, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong chính sách đối ngoại. Những thành tựu này không chỉ giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng cô lập mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

4.1. Thiết lập quan hệ ngoại giao với 172 quốc gia

Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 172 quốc gia trên thế giới, đánh dấu một bước tiến lớn trong việc hội nhập quốc tế. Điều này đã giúp Việt Nam có thêm nhiều cơ hội hợp tác và phát triển kinh tế.

4.2. Tham gia vào các tổ chức quốc tế

Việc tham gia vào các tổ chức quốc tế như ASEAN và APEC đã giúp Việt Nam nâng cao vị thế và tiếng nói trên trường quốc tế. Những tổ chức này cũng đã tạo ra nhiều cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chính sách đối ngoại Việt Nam

Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986-1996 đã tạo ra những nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai. Những bài học từ giai đoạn này vẫn còn giá trị cho chính sách đối ngoại hiện tại và tương lai của Việt Nam.

5.1. Bài học từ quá trình điều chỉnh chính sách

Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại đã cho thấy tầm quan trọng của việc linh hoạt và thích ứng với tình hình quốc tế. Những bài học này cần được áp dụng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại trong tương lai.

5.2. Triển vọng hội nhập quốc tế của Việt Nam

Với những thành tựu đã đạt được, Việt Nam có nhiều triển vọng trong việc tiếp tục hội nhập quốc tế. Việc duy trì và phát triển các mối quan hệ đối tác chiến lược sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại việt nam giai đoạn 1986 1996

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 1996 1. TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC Sau đại thắng mùa xuân 1975, nước ta bước vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi. Trước hết, do tác động của thắng lợi cách mạng Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới được thúc đẩy mạnh, nhiều dân tộc thuộc địa hoặc lệ thuộc giành được độc lập. Thêm vào đó, chủ nghĩa tư bản đang trong giai đoạn suy thoái kinh tế không đủ sức lũng đoạn thế giới.

Đây là cơ hội để các dân tộc bị áp bức đứng lên giành quyền làm chủ đất nước mình. Trong bối cảnh đó, Việt Nam là một dân tộc đã đánh thắng Mỹ nên nhiều nước có cảm tình và sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam tái thiết đất nước. Tuy nhiên, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, hệ thống xã hội chủ nghĩa bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng, nội bộ các nước nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng. Lúc này, các nước tư bản chủ nghĩa nhờ áp dụng được các thành tựu khoa học - công nghệ nên đã phục hồi và phát triển nhanh chóng.

Hai sự kiện này diễn ra đồng thời làm khoảng cách phát triển giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa càng ngày càng xa. Mỹ tiếp tục phát động chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; thực hiện "diễn biến hoà bình" chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Đối với Việt Nam, Mỹ thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, cô lập ta trên trường quốc tế. Đồng thời, Mỹ tăng cường kích động lôi kéo người Việt Nam di tản nhằm làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội dẫn đến làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, ở nước láng giềng Campuchia, Khơme Đỏ sau khi giành được chính quyền đã thi hành chính sách diệt chủng ở trong nước và thực hiện một chính sách đối ngoại thù địch với Việt Nam. Việc Việt Nam đưa quân sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế là lý do để Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc nhằm cô lập, bao vây cấm vận nước ta. Trung Quốc tiến hành chiến tranh chống Việt Nam trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc, sau đó là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, cùng các nước ASEAN cô lập, công kích ta về chính trị, bao vây cấm vận về kinh tế, đẩy Việt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn. Bước vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới có những thay đổi to lớn tác động sâu sắc đến các mối quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa các quốc gia nói riêng.

Đó là: Cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần 40 năm kể từ năm 1947[29, tr. 72] giữa Liên Xô và Mỹ đã đi vào giai đoạn kết thúc. Quan hệ quốc tế từ chỗ là sự đối đầu quyết liệt giữa hai hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội đối lập đã chuyển sang thời kì đối thoại nhằm giảm chạy đua vũ trang, giải trừ quân bị, đi vào giải quyết thực chất các vấn đề nóng bỏng trong quan hệ quốc tế và tập trung tiềm lực cho việc phát triển kinh tế. Quá trình chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế và giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thực tế được bắt đầu từ cuối những năm 1960, đầu những năm 1970[39, tr.

45] lại càng trở thành yêu cầu cấp bách trong chiến lược của các nước, đặc biệt là các nước lớn vào giữa những năm 1980; và “điều không ngạc nhiên là những thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với bạn bè, sự hoà dịu ngày càng tăng giữa Oasingtơn và Bắc Kinh. đã tạo ra một môi trường hoàn toàn mới”[44, tr. Từ chỗ là những quốc gia có sức mạnh vượt trội trong hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nhưng do hậu quả của cuộc chạy đua vũ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trang lâu dài và tốn kém, cả Mỹ và Liên Xô ở mức độ khác nhau, đều lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng cả về kinh tế lẫn chính trị, đánh mất dần hoặc suy giảm vai trò chi phối trong từng hệ thống và trong quan hệ quốc tế. Nước Mỹ từ chỗ chiếm hơn 50% nền kinh tế thế giới vào năm 1945, đến năm 1993 chỉ còn chiếm 21% của nền kinh tế thế giới.

Riêng ngân sách quân sự của Mỹ từ năm 1980 đến 1986 đã tăng đến 50%[19, tr. Trong khi đó hai nền kinh tế Đức và Nhật Bản cộng lại cùng thời điểm năm 1993 đã chiếm đến 26% nền kinh tế thế giới[39, tr. Đối với Liên Xô, với một ngân sách quốc phòng chiếm tới 18% tổng thu nhập quốc dân[45, tr. 358] đã khiến cho nền kinh tế Liên Xô hoạt động không thể bình thường được, nó làm cho các chương trình xã hội quy mô lớn không thể tiến hành và là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện trong xã hội Liên Xô.

Cho đến năm 1985, trong sự so sánh với Mỹ, tổng giá trị sản phẩm của Liên Xô chỉ bằng 40%, thu nhập quốc dân bằng 50%, năng suất lao động công nghiệp bằng 55%, năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 20 - 25%[42, tr. Những số liệu kinh tế đó cho thấy sau một thời kì dài chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô đã làm cho sức cạnh tranh của hai nước này trong nền kinh tế thế giới giảm sút nghiêm trọng. Điều đó làm cho hai nước phải đi vào tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm chạy đua vũ trang, giảm chi phí quốc phòng, tập trung cho phát triển và cải cách nền kinh tế. Việc các nước điều chỉnh chính sách tập trung cho phát triển kinh tế, giảm chạy đua vũ trang đã làm xuất hiện xu thế chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế.

Quá trình chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại thời kì này thể hiện trước hết ở việc hai nước lớn Liên Xô và Mỹ giảm chạy đua vũ trang, đi vào đàm phán tiến tới kí kết các hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược của hai bên. Sau khi đưa cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô lên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến đỉnh cao trong nhiệm kì cầm quyền đầu tiên, bước vào nhiệm kì thứ hai, Tổng thống Mỹ R. Rigân bắt đầu tìm kiếm các kênh đối thoại khác nhau với Liên Xô để tiến tới các thoả thuận nhằm kiểm soát vũ khí chiến lược. Đồng thời trong giai đoạn này, ở Liên Xô cũng diễn ra những thay đổi quan trọng trong bộ máy lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Xôviết.

Cuộc khủng hoảng về người lãnh đạo ở Liên Xô chấm dứt với sự lên nắm quyền của Tổng bí thư Goócbachốp tháng 3 năm 1985, sau khi Tổng bí thư Chécnencô qua đời. Tuy nhiên lúc này, Liên Xô “tuy đã tiến những bước dài đáng kể trong sản xuất quân sự và vũ trụ và trong các ngành công nghiệp thép, bê tông, than và dầu lửa nhưng nó thực sự không có khả năng mang lại những hứa hẹn vật chất của cuộc cách mạng cho người dân Liên Xô”[41, tr. Thất bại trong sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và các sản phẩm công nghệ cao đã đẩy nền kinh tế Liên Xô tụt hậu xa so với các nước phương Tây chủ chốt. Thậm chí trong nhiều lĩnh vực, Liên Xô còn tụt hậu so với các nước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan.

trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu qủa vào sản xuất kinh tế. Cuộc khủng hoảng trầm trọng trong xã hội Liên Xô là tiền đề quyết định cho công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Trong lĩnh vực đối ngoại, mục tiêu của Liên Xô là tìm cách chấm dứt sự đối đầu với Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang. Ngay sau khi Goócbachốp lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và Rigân trúng cử Tổng thống nhiệm kì hai ở Mỹ, hai nước này đã tiến hành những bước đi tạo cơ sở cho các cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ nhằm chấm dứt sự đối đầu giữa hai nước.

Sự kiện chính yếu trong quan hệ Xô - Mỹ năm 1985 là cuộc gặp cấp cao giữa nguyên thủ hai nước tại Giơnevơ tháng 11 năm 1985. Cuộc gặp cấp cao này đã tạo tiền đề để chuyển từ trạng thái căng thẳng nguy hiểm sang tìm kiếm xây dựng các con đường bình thường hoá quan hệ giữa hai nước và lành mạnh hoá tình hình quốc tế nói 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. “Xét theo nghĩa rộng thì cuộc gặp Goócbachốp - Rigân đã kẻ một đường vạch ngang chấm dứt một khoảng thời gian nhất định, khi mà Oasingtơn trên thực tế đã bác bỏ sự đối thoại nghiêm túc với chúng ta, coi trọng sử dụng các mưu đồ gây sức ép thô bạo đối với Liên Xô hơn là đối thoại”[1, tr. Tiếp theo đó là cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ ở Râygiavích (Aixơlen) tháng 11 năm 1986 đưa đến kết quả là Liên Xô và Mỹ đạt được thoả thuận cắt giảm 50% vũ khí chiến lược trong vòng 5 năm, huỷ bỏ toàn bộ tên lửa tầm trung ở châu Âu, Hoa Kì đồng ý hoãn triển khai chương trình Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) cho đến năm 1991.

Và đến tháng 12 năm 1989, “sự xích lại gần nhau (giữa Liên Xô và Mỹ - TG)) đã được đánh dấu bằng cuộc gặp gỡ ở Malta giữa Tổng thống George Bush và Mikhail Gorbachev”[19, tr. 662] đưa đến “Gorbachev tuyên bố “chiến tranh lạnh” đã kết thúc, còn Bush nói đến “thời đại mới”[19, tr. 662] trong quan hệ quốc tế. Tính từ năm 1985 đến 1990, giữa Liên Xô và Mỹ đã có tới bảy cuộc gặp cấp cao đánh dấu việc hai nước này đi đến chấm dứt đối đầu và cùng nhau giải quyết thực chất những vấn đề gay cấn hàng đầu trong quan hệ quốc tế.

Xu thế chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế còn thể hiện qua việc các nước lớn điều chỉnh chiến lược, phối hợp với nhau trong việc giải quyết các vấn đề nóng bỏng trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ