Luận văn thạc sĩ ussh phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến của hồ chí minh và sự vận dụng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển việt nam ở biển đông hiện nay

Luận văn thạc sĩ phân tích phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến của Hồ Chí Minh và ứng dụng trong bảo vệ chủ quyền biển Đông Việt Nam.

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.7. Kết cấu của luận văn

2. PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” CỦA HỒ CHÍ MINH

2.1. Cơ sở hình thành và nội dung phƣơng châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh

2.1.1. Cơ sở hình thành

2.1.2. Nội dung phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh

2.2. Giá trị chỉ đạo thực tiễn của phƣơng châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” đối với cách mạng Việt Nam (1945-1969)

2.3. Tiểu kết chương 1

3. VẬN DỤNG PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN Ở BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY

3.1. Thực trạng đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam

3.1.1. Tình hình Biển Đông trong thập niên đầu của thế kỷ XXI

3.1.2. Vấn đề chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam và thực trạng đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông từ năm 2009 đến nay

3.2. Những nhân tố tác động và yêu cầu đặt ra trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông hiện nay

3.3. Phƣơng hƣớng, giải pháp vận dụng phƣơng châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

3.3.1. Phương hướng vận dụng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tình hình hiện nay

3.3.2. Giải pháp vận dụng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

3.4. Tiểu kết chương 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về Phương Châm Hồ Chí Minh và Chủ Quyền Biển Đông

Phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Hồ Chí Minh không chỉ là một nguyên tắc chỉ đạo trong cách mạng Việt Nam mà còn là kim chỉ nam cho việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong bối cảnh Biển Đông hiện nay, việc áp dụng phương châm này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ quyền biển đảo là một phần không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, và việc bảo vệ nó là trách nhiệm của toàn dân.

1.1. Ý nghĩa của phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến

Phương châm này thể hiện sự linh hoạt trong tư duy và hành động, cho phép Việt Nam ứng phó với những biến động phức tạp trên Biển Đông. Nó nhấn mạnh rằng trong khi các nguyên tắc cơ bản không thay đổi, cách thức thực hiện có thể thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.

1.2. Tình hình Biển Đông hiện nay

Biển Đông đang trở thành điểm nóng với nhiều tranh chấp chủ quyền. Các hành động xâm phạm của Trung Quốc đã đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền. Việc hiểu rõ tình hình này là cần thiết để áp dụng phương châm một cách hiệu quả.

II. Thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền Biển Đông của Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Những hành động xâm lấn của các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc, đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những chiến lược linh hoạt và hiệu quả để bảo vệ lợi ích quốc gia.

2.1. Các yếu tố tác động đến chủ quyền biển đảo

Nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế và quân sự đang tác động đến tình hình Biển Đông. Sự cạnh tranh giữa các cường quốc và các hiệp định quốc tế cũng ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.

2.2. Những thách thức từ các nước láng giềng

Các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, đã có những hành động quyết liệt nhằm khẳng định yêu sách của mình. Điều này tạo ra áp lực lớn đối với Việt Nam trong việc duy trì chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia.

III. Phương pháp vận dụng phương châm Hồ Chí Minh trong bảo vệ chủ quyền

Việc vận dụng phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" trong bảo vệ chủ quyền biển đảo là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp Việt Nam có những chiến lược linh hoạt mà còn đảm bảo tính bền vững trong các quyết định chính trị.

3.1. Chiến lược ngoại giao trong bảo vệ chủ quyền

Ngoại giao là một trong những công cụ quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền. Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế và xây dựng liên minh với các nước có cùng lợi ích để tạo sức ép lên các nước xâm phạm.

3.2. Kết hợp giữa pháp lý và thực địa

Việc sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế để bảo vệ chủ quyền là cần thiết. Đồng thời, cần có sự hiện diện thực địa mạnh mẽ để khẳng định chủ quyền và ngăn chặn các hành động xâm phạm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương châm trong bảo vệ chủ quyền

Việc áp dụng phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Các chiến lược linh hoạt đã giúp Việt Nam ứng phó hiệu quả với các tình huống phức tạp.

4.1. Kết quả từ các hoạt động ngoại giao

Các hoạt động ngoại giao đã giúp Việt Nam khẳng định được lập trường của mình trên trường quốc tế. Sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế đã tạo ra sức mạnh cho Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền.

4.2. Tác động của các chiến lược bảo vệ thực địa

Việc tăng cường hiện diện quân sự và các hoạt động thực địa đã giúp Việt Nam khẳng định chủ quyền một cách rõ ràng. Điều này không chỉ tạo ra rào cản cho các hành động xâm phạm mà còn nâng cao tinh thần dân tộc.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong bảo vệ chủ quyền

Việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục là kim chỉ nam cho các chiến lược bảo vệ chủ quyền trong tương lai. Cần có sự đồng lòng của toàn dân và sự linh hoạt trong ứng phó với các tình huống mới.

5.1. Tầm quan trọng của sự đồng lòng trong bảo vệ chủ quyền

Sự đồng lòng của toàn dân là yếu tố quyết định trong việc bảo vệ chủ quyền. Mỗi công dân cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ đất nước.

5.2. Triển vọng trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo

Với sự phát triển của kinh tế và chính trị, Việt Nam có nhiều cơ hội để khẳng định chủ quyền. Việc áp dụng linh hoạt phương châm của Hồ Chí Minh sẽ giúp Việt Nam vượt qua thách thức và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến của hồ chí minh và sự vận dụng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển việt nam ở biển đông hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương 4 tiết. Chƣơng 1: PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” CỦA HỒ CHÍ MINH Chƣơng 2: VẬN DỤNG PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN Ở BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” CỦA HỒ CHÍ MINH 1. Cơ sở hình thành và nội dung phƣơng châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh 1. Cơ sở hình thành Thuật ngữ “Dĩ bất biến ứng vạn biến” là cụm từ có nguồn gốc tiếng Hán, là một vế của câu đối hoàn chỉnh mà vế thứ hai của nó là: “Dĩ chúng tâm, vi kỷ tâm” (tức là lấy tình cảm, ý chí của quần chúng làm tình cảm, ý chí của mình).

Trong quá trình giao thoa văn hoá, người Việt dùng nguyên cụm từ này cả âm lẫn nghĩa. Cụm từ này được ghép bởi các từ đơn: dĩ = lấy; bất = không; biến = biến hóa, thay đổi; ứng = ứng phó, xử lý, đối xử; vạn (số từ) = vạn, hàng vạn. Có thể hiểu nghĩa đen của cụm từ này là: lấy cái không thay đổi để ứng phó linh hoạt với những cái đang biến đổi trong hiện tại. Chúng ta đều biết rằng, mối quan hệ giữa cái bất biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản chất và hiện tượng… là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây.

Như vậy, “dĩ bất biến ứng vạn biến” còn có thể hiểu là lấy cái có tính quy luật để ứng phó với cái phong phú đa dạng, biến đổi khôn lường. Còn ý nghĩa nhân sinh sâu xa của phương pháp này là ở chỗ, trong cuộc sống nên nắm giữ cái bản chất, cái lớn lao, không sa vào cái vụn vặt, lạc vào những biến đổi của hiện tượng, nên đứng ở cái bất biến mà quan sát, từ đó dung hoà, xử lý các quan hệ, xử lý với ngàn vạn những điều đang xảy ra trong cuộc sống một cách linh hoạt trên cơ sở mục tiêu cơ bản, mục tiêu lâu dài, đích cuối cùng. Muốn thực hiện được, thực hiện đúng mục tiêu cuối cùng thì phải lấy nó làm gốc khi ứng phó với những cái đang xảy ra trong hiện tại và tương lai, ứng phó với những diễn biến phức tạp đang xảy ra trong hiện tại dù linh hoạt tới đâu vẫn phải dựa trên cơ sở cái không đổi. Nếu không nắm được cái bất biến mà cứ chạy theo cái vạn biến thì cả đời mỏi mệt, trăm lần khởi sự không một thành công.

Thực tế cho thấy, trong cuộc sống, trong mỗi vấn đề, trong mỗi việc đều có một điều bất biến riêng, đồng thời với mỗi điều bất biến ấy, tuỳ hoàn cảnh, thời 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm mà lại có hàng vạn điều vạn biến khác nhau. Hiểu nghĩa của “dĩ bất biến ứng vạn biến” như vậy, chúng ta thấy rằng ngay trong mối quan hệ giữa các cá nhân, quan hệ gia đình, anh em, bạn bè cũng phải cư xử dựa trên cơ sở của cái bất biến. Cái bất biến trong quan hệ gia đình, anh em, bạn bè trong xã hội xưa được quy định bằng các quan hệ: vua - tôi; cha - con; vợ - chồng. Ngày nay, dù lễ giáo phong kiến không còn tồn tại một cách chính thống, mối quan hệ trong gia đình và xã hội cũng có những thay đổi nhất định, mọi người cởi mở và gần gũi với nhau hơn, nhưng chúng ta dễ dàng để nhận ra là trong các mối quan hệ chằng chịt ấy, mỗi người phải luôn giữ và xây dựng cho mình một nguyên tắc ứng xử đảm bảo duy trì các mối quan hệ; khi không xây dựng được nguyên tắc ứng xử cho riêng mình một nguyên tắc bất biến phù hợp, thì rất dễ gặp thất bại trong cuộc sống gia đình cũng như công việc.

Tuy nhiên, không dừng lại ở chỗ tìm hiểu xem cái bất biến của mỗi cá nhân là gì trong những mối quan hệ xã hội. Cần nhìn đến những vấn đề lớn hơn, đi tìm và xây dựng những nguyên tắc, mục tiêu bất biến cho từng tập thể, từng tổ chức và rộng lớn hơn là cho cả quốc gia. Trên cơ sở cái bất biến của quốc gia, dân tộc, mỗi cá nhân trong xã hội xác định cái bất biến của mình. Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, cái bất biến là lợi ích quốc gia hay mục tiêu lợi ích quốc gia đã đuợc hình thành và phát triển qua một quá trình lịch sử lâu dài.

Cái bất biến có thể hiểu là cái không đổi, mục tiêu lâu dài, mục tiêu chiến lược. Đối với sự nghiệp cách mạng thì để cách mạng đi đến thắng lợi phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Nhiệm vụ của mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường có thể khác nhau, vì thế mục tiêu từng giai đoạn, từng chặng đường cũng có thể khác nhau, nhưng mục tiêu chung cuối cùng, cái đích để vươn tới là không thay đổi. Những thay đổi trong từng chặng đường, từng giai đoạn gọi là sách lược hay nó chính là sự vạn biến cho phù hợp với giai đoạn, chặng đường đó.

Chúng ta cũng có thể thấy cái bất biến và cái vạn biến có thể chuyển hoá cho nhau. Cái bất biến ở một giai đoạn cách mạng này có khi lại là cái vạn biến ở cả một thời kỳ của cách mạng. Nhưng dù là gì nó phải phục vụ mục tiêu không đổi, mục tiêu cuối cùng, mục tiêu chiến lược đã được xác định, cái bất biến lớn nhất và cuối cùng. Đây là phương pháp hành xử của 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỗi người, cộng đồng, quốc gia, dân tộc có tính phổ biến trong quá trình mưu sinh, và rộng ra là cả quá trình tồn tại và phát triển trong lịch sử.

Tóm lại, có thể hiểu “dĩ bất biến ứng vạn biến” là dựa trên cơ sở của cái không thay đổi, lấy cái không thay đổi để ứng phó với hàng vạn cái thay đổi nhằm hiện thực hóa cái không thay đổi. Ở đây phải hiểu, cái bất biến - cái không thay đổi lúc đầu chỉ là mục tiêu của hành động, sau hành động với vạn cái thay đổi để đạt được, giữ vững cái không thay đổi tức là đã biến mục tiêu lúc này đã trở thành hiện thực, cái bất biến được giữ vững. Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” được hình thành từ những cơ sở như: - Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do, quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc Việt Nam là một trong những quốc gia hình thành sớm. Với những đặc điểm địa chính trị, kinh tế đặc thù chi phối, ngay từ rất sớm nhân dân ta đã phải tìm ra nhiều cách thức, biện pháp để đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm.

Để đấu tranh chống lại những kẻ ngoại bang xâm lược, cộng đồng cư dân người Việt đã tạo dựng và tiếp thu để từng bước xây dựng, bồi đắp cho mình những truyền thống văn hóa, trong đó có phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước sơ khai từ thời đại Văn Lang – Âu Lạc, trải qua nghìn năm Bắc thuộc, vẫn được bảo tồn trong môi trường sống mang tính tự trị cao của cộng đồng làng xã. Tinh thần yêu nước được các phong trào giải phóng dân tộc thổi bùng lên, mà những cuộc đàn áp tàn khốc của quân đô hộ không bao giờ dập tắt được. Ý thức này được thể hiện đậm nét trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên trên chiến luỹ chống quân Tống tại bến sông Như Nguyệt cuối mùa Xuân 1077: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tinh thần yêu nước của dân tộc được phát huy cao độ thành chủ nghĩa anh hùng. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.

Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, … các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”.38] Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, dân tộc Việt Nam đã đúc kết được cho mình nhiều phương pháp, trong đó “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một trong những phương châm làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định, chủ nghĩa yêu nước nói chung và phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” nói riêng luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển quốc gia - dân tộc Việt Nam. Truyền thống văn hóa Việt Nam Trải qua quá trình phát triển lịch sử - xã hội và giao lưu với bên ngoài, văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây.

Nhưng các văn hoá ngoại lai đều thông qua chủ thể văn hoá Việt Nam mới phát huy tác dụng và làm phong phú văn hoá truyền thống bản địa. Đây là sự tiếp biến văn hoá một cách chủ động và sáng tạo. Từ trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đã biểu hiện nền văn hoá chính trị mà nội dung chủ yếu là coi trọng độc lập, tự chủ và thân dân, đề cao tư tưởng nhân nghĩa, hoà mục trong việc trị quốc, yên dân. Xem xét các mối quan hệ tổng hoà giữa các yếu tố địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hoá, xã hội, văn hoá Việt Nam là văn hoá của những cư dân gốc nông nghiệp mong muốn sống hoà hợp với thiên nhiên, trọng tĩnh và sự cân bằng.

Nền văn hoá này mang nặng tính nhân văn và nhân đạo, trọng tình; là nền văn hoá tinh tế, giản dị, bao dung và mang tính cộng đồng cao. Những đức tính ấy đã được người Việt vận dụng vào đấu tranh chống lại 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ