Chương 1. Tiếp cận chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp Chương 2. Thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp của thành phố Hà Nội. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu qủa của chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP 1. Những khái niệm cơ bản 1.Khái niệm nhà ở, nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp Khái niệm về nhà ở Theo Luật nhà ở (2014) thì nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Theo như nhận định của tác giả thì Nhà ở “là sản ph m của quá trình hoạt động â ựng và là hông gian ên trong c t chức được ngăn cách với môi trường ên ngoài ng để ở và sinh hoạt”.
Nhà ở không chỉ là không gian cư trú đơn thuần, mà còn là môi trường sống, môi trường lao động và sản xuất, môi trường văn hóa, giáo dục của mỗi cá nhân, gia đình. Đối với mỗi đất nước thì nhà ở không chỉ là nguồn tài sản có giá trị lớn, mà còn thể hiện trình độ phát triển, tiềm năng kinh tế, góp phần tạo nên bộ mặt kiến trúc tổng thể. khi cuộc sống của người dân ngày càng đầy đủ thì nhu cầu về nhà ở lại ngày được nâng cao. Khái niệm về nhà ở xã hội và nhà ở cho người thu nhập thấp Nhà ở xã hội (social housing) được xuất phát từ các nước Anh, Mỹ, Canada vào những năm 1970 và dần dần lan rộng ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc.
Nhà ở xã hội là một loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập, hoặc có nhưng không đáng kể. Họ là những người không thể nào và không bao giờ tự mình kiếm được một chỗ ở. Những người này thường là người vô gia cư, người già đơn thân, người tật nguyền, người đau yếu không nơi nương tựa, những người sau khi mãn hạn tù nhưng không còn sức lao động. Loại nhà này trong nhiều trường hợp được gọi là nhà từ thiện, các loại nhà này đa phần là của nhà nước, ngoài ra còn có các hiệp hội nhà ở, các tổ chức từ thiện tham gia từng phần để duy trì cuộc sống của những người sống trong nhà xã hội.
Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà người đăng ký ở nhà xã hội có người có thể được miễn phí hoàn toàn hoặc cho thuê với giá thấp. Phần tiền thuê này thường 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được các tổ chức từ thiện như nhà thờ, tổ chức phi chính phủ, các mạnh thường quân chi trả qua các quỹ mà không chi trả trực tiếp cho người sử dụng vì sợ họ tiêu phung phí. Đặc điểm chính của loại nhà này là người sử dụng không có quyền sở hữu, không được chuyển nhượng, không thừa kế mà chỉ có quyền sử dụng có thời hạn trong 10 - 15 năm. Những nhà này có thời hạn sử dụng không quá kiên cố, nhưng có đủ các tiện nghi tối thiểu như điện, nước, gas, nhà vệ sinh, nhà bếp, nhà tắm.
Vị trí của loại nhà này được đặt ở những mảnh đất mà chủ sở hữu chưa dùng đến, được đặt đặt ở ngoại thành, các khu vực xa. Những người sống trong nhà xã hội phải cam kết pháp lý, hết thời hạn sử dụng nếu chủ sở hữu cần lấy lại để đưa vào khai thác như xây các công trình mới thì phải chấp hành, không kiện cáo. Khi đó tùy tình hình mà nhà nước sẽ bố trí họ vào sống trong các khu nhà ở xã hội khác. Nhưng dù là của nhà nước hay các tổ chức từ thiện thì cũng được quy về một mối là một tổ chức Chính phủ đứng ra lo liệu để dễ bề quản lý về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.
Khái niệm nhà ở xã hội (NOXH) được xuất hiện lần đầu tiên trong Luật đất đai năm 2005. Tại điều 47 của bộ luật này khái niệm “nhà ở xã hội” được định nghĩa rằng “Nhà ở xã hội tại đô thị phải là nhà chung cư được thiết kế đảm bảo những điều kiện, tiêu chu n của pháp luật về xây dựng có số tầng đúng theo qu định của từng loại đô thị. Diện tích mỗi căn hộ không quá 70 m2 sàn và được hoàn thành theo cấp, hạng nhà ở; Nhà ở xã hội phải đảm bảo các tiêu chu n hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo qu định của từng loại đô thị”. Nhà nước rất chú trọng trong việc phát triển nhà ở xã hội.
Có rất nhiều ưu đãi để thúc đẩy sự phát triển của loại nhà này: miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, được miễn giảm các khoản thuế liên quan. Đối tượng được thuê nhà là những người thu nhập thấp, chưa có nhà ở, cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Luật Nhà ở đã ban hành từ năm 2005 nhưng 4 năm sau mới có một số văn bản pháp quy về nhà ở xã hội, còn tên gọi nhà ở xã hội trong các văn bản pháp quy dưới luật lại được đổi thành nhà ở cho người thu nhập thấp, khiến nhiều người lầm tưởng có hai loại nhà khác nhau. Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược nhà 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” sự nhầm lẫn này đã được loại bỏ khi quy định rõ 8 nhóm đối tượng chính sách xã hội gặp khó khăn về nhà ở, không đủ khả năng thanh toán theo cơ chế thị trường sẽ được tập trung, ưu tiên giải quyết chỗ ở, bao gồm: Người có công với Cách mạng; các hộ nghèo khu vực nông thôn; người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, nhân sỹ, trí thức, văn nghệ sỹ; nhà ở cho sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, dịch vụ ngoài khu công nghiệp; nhà ở cho sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội đặc biệt khó khăn (người tàn tật, người già cô đơn, người nhiễm chất độc da cam.
Tại Nghị định số 71/2010/NĐ-CP quy định Nhà ở xã hội gồm có hai loại: Loại 1: xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước để cho thuê: Loại 2 xây dựng bằng vốn không phải từ ngân sách nhà nước để bán, cho thuê, cho thuê mua. Như vậy, loại nhà ở xã hội thứ 2 này chính là nhà ở thấp dành cho dân cư đô thị có thu nhập thấp được đầu tư bằng nguồn vốn thương mại của các doanh nghiệp cùng một số ưu đãi khuyến khích của nhà nước. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế hiện tại của đất nước hiện tại chúng ta từ nay cho đến năm 2020 chúng ta chỉ tập trung phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp. Vì vậy nhà ở cho người thu nhập thấp là loại hình nhà ở thương mại có sự điều tiết của nhà nước về diện tích, giá cả, điều kiện đối tượng được mua bán.
Về tiêu chuẩn, thiết kế hay kết cấu thì nhà ở xã hội và nhà ở cho người thu nhập thấp về cơ bản là giống nhau. Điểm khác biệt ở đây là đối tượng và cách thức giải quyết. Nhà ở cho người thu nhập thấp là thuật ngữ chỉ về những tòa nhà căn nhà được Chính phủ, nhà đầu tư â ựng trên quỹ nhà ở của Quốc gia, địa phương dành cho đa số ân cư và người có thu nhập ưới mức bình quân của của xã hội. Nhà ở cho người thu nhập thấp được xây dựng cho một nhóm xã hội chuyên biệt trong xã hội, dựa trên những thiết kế chung của pháp luật về xây dựng, đảm bảo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các tiêu chuẩn hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Nhà ở thu nhập thấp được Chính phủ quy định về giá bán, giá mua, giá thuê mua cũng như những ưu đãi dành cho chủ đầu tư xây dựng. Người hưởng chính sách nhà thu nhập thập chịu quản lý của nhà nước về quá trình mua, thuê, thuê mua và sử dụng nhà ở thu nhập thấp. Nhà ở thu nhập thấp được chia ra làm ba loại: nhà mua, cho thuê, thuê mua. Nhà thu cho người thu nhập thấp dạng mua: Là các dự án được xây dựng nhằm mục đích cho bán.
Chủ đầu tư được phép bán cho người hưởng chính sách theo hình thức thanh toán một lần hoặc nhiều lần. Nhà ở cho người thu nhập thấp dạng thuê: Là nhà ở xây dựng với mục đích chỉ để cho thuê với các đối tưởng hưởng chính sách. Nhà ở cho người thu nhập thấp dạng thuê mua. Là các dự án nhà ở thu nhập thấp xây dựng sau đó cho thuê dài hạn, sau đó được phép bán lại cho bên thuê trong bất kỳ thời gian nào, chậm nhất là sau khi kết thúc hợp đồng.Khái niệm người thu nhập thấp, hộ thu nhập thấp Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng và chung nhất về người thu nhập thấp, nội hàm của khái niệm này liên tục thay đổi theo trình độ phát triển của các nước và khu vực.
Theo Ngân hàng Thế giới và Tổ chức chương trình định cư con người của Liên hợp quốc (Un – Habitat) thì “người thu nhập thấp là người mà thu nhập bình quân một tháng của họ phải chi cho kh u phần ăn uống để duy trì cuộc sống tối thiểu mất 2/3 thu nhập, 1/3 còn lại chi dùng cho các nhu cầu cơ ản hác như: nhà ở, văn h a, giáo ục, y tế, đi lại, giao tiếp và tiết kiệm, tích lũ ”. Khái niệm người thu nhập thấp ở Việt Nam xuất hiện chưa lâu và chưa có một định nghĩa thống nhất. Thế nào là người thu nhập thấp vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Việc không định nghĩa rõ ràng gây hiểu lầm và khó khăn trong việc thực hiện chính sách.
Một số văn bản cũng đã đề cập đến khái niệm người thu nhập thấp nhưng chưa được đầy đủ, chính xác. Theo Thông tư số 03/TT-LĐTBXH ngày 09-01-199 của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội sửa chuẩn về người có thu nhập thấp thì người lao động có mức thu nhập thấp là người có thu nhập bình quân cao nhất bằng 1/3 mức tiền 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.