Chương 1 ĐẶNG XUÂN BẢNG VÀ TÁC PHẨM CỔ NHÂN NGÔN HÀNH LỤC 1. Thân thế và sự nghiệp Đặng xuân Bảng 1. Bối cảnh xã hội Đặng Xuân Bảng sống vào giai đoạn thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động, chỉ trong khoảng thời gian Đặng Xuân Bảng sống (1828 - 1910) đã thay đổi đến 10 đời vua. Có thể liệt kê từ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Nguyễn Phúc Đảm, niên hiệu Minh Mệnh (1820 - 1841); Hiển Tổ Chương Hoàng Đế Nguyễn Phúc Miên Tông, niên hiệu Thiệu Trị (1841 - 1847); Dực Tông Anh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, niên hiệu Tự Đức (1847 - 1883); Cung Tông Huệ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Ái, niên hiệu Dục Đức (1883); Nguyễn Phúc Hồng Dật, niên hiệu Hiệp Hoà (1883); Giản Tông Nghị Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng, niên hiệu Kiến Phúc (1883 - 1884); Nguyễn Phúc Ưng Lịch, niên hiệu Hàm Nghi (1884 - 1885); Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, niên hiệu Đồng Khánh (1885 - 1889); Nguyễn Phúc Bửu Lân, niên hiệu Thành Thái (1889 - 1907), Nguyễn Phúc Vĩnh San, niên hiệu Duy Tân (1907-1916).
[2, 5] Nếu thế kỷ XV chế độ phong kiến Việt Nam phát triển cực thịnh, thì sang thế kỷ XVI - XVII chế độ này đã bộc lộ những dấu hiệu của sự suy yếu và mầm mống cho một cuộc khủng hoảng nội bộ đã xuất hiện. Ðến nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX thì sự suy yếu này không còn là dấu hiệu nữa, chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng, chuẩn bị cho sự sụp đổ toàn diện của nó vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Sự khủng hoảng đó được bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất là sự suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến. Kinh tế đình đốn, sản xuất hàng hóa bị kìm hãm, chính trị hỗn loạn.
Giai đoạn này nhân dân vùng lên khởi nghĩa có lúc giành thắng lợi nhưng rồi lại thất bại. Lịch sử dân tộc ta giai đoạn này là lịch sử đau thương nhưng quật khởi, có bi kịch nhưng cũng có anh hùng ca. Giai cấp thống trị sụp đổ, tan rã kèm theo đó là sự suy thoái của kỷ cương, của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực dân Pháp đã có ý đồ xâm chiếm nước ta từ lâu, cuối thế kỷ XVIII nhưng âm mưu này chưa thực hiện được.
Mãi đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn đã bắn giết các giáo sĩ và ngăn chặn thông thương nên đã chính thức xâm lược Việt Nam. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị nhân dân theo phong cách Nho giáo. Triều đình không có chủ trương đối phó triệt để với phương Tây ngoài việc cấm đạo. Đầu năm 1858, Đô đốc hải quân Pháp Charles Rigault de Genouilly tiến quân đánh chiếm Đà Nẵng, chính thức mở màn kế hoặch xâm lược An Nam.
Tháng 2 năm 1861 Thực dân Pháp mở rộng việc chiếm đóng quanh Gia Định và Mỹ Tho. Triều đình nhà Nguyễn không chống đỡ nổi phải miễn cưỡng chịu ký Hoà ước nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Được thể quân Pháp không nhân nhượng tiếp tục đánh chiếm, kết quả là tháng 7 năm 1867, 6 tỉnh Nam Kỳ đã biến thành thuộc địa của Thực dân Pháp. Không dừng lại ở đó, năm 1873 quân Pháp mở cuộc tấn công Bắc Kỳ, chẳng bao lâu sau Hà Nội thất thủ, tiếp đến là Nam Định, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình.
Năm 1885, phái chủ chiến trong triều đình nổi dậy tấn công Pháp ở kinh đô Huế nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chạy lên vùng núi Quảng Trị ra chiếu Cần Vương kêu gọi người Việt nổi dậy đánh giặc cứu nước. Thực dân Pháp phải mất gần 40 năm mới đặt ách thống trị trên đất nước ta và non một thế kỷ nhân dân ta phải sống dưới sự cai trị của Pháp. Trong điều kiện xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX thì sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam là sự kiện quan trọng, nổi bật, chi phối các sự kiện khác và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp người trong xã hội.
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đấu tranh chống Pháp quyết liệt. Giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối nhưng ngày càng yếu ớt và cuối cùng thì nhượng bộ, thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi. Phong trào đấu tranh yêu nước của các sĩ phu, các lãnh binh đã lãnh đạo nhân dân chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương cũng nổ ra rầm rộ kéo dài từ Bình Ðịnh, Quảng Bình ra đến Hưng Yên, Thái Bình, Tây Bắc.
Phong trào chống Pháp tuy sôi nổi, đều khắp nhưng không có lực lượng hậu thuẫn làm nòng cốt nên cuối cùng phong trào đấu tranh chống Pháp bị thất bại. Trước những biến cố lớn lao, xã hội có sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Mỗi tầng lớp bị phân hóa đều mang sắc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thái tâm lý riêng, một thái độ chính trị riêng. Trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, giai cấp thống trị cũ của xã hội, thái độ của họ không giống nhau nhưng tâm lý chủ yếu của tầng lớp này là đầu hàng, thỏa hiệp.
Bên cạnh đó có một số sĩ phu, trí thức phong kiến đã tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi với nhân dân nên đã hăng hái cùng với nhân dân chống giặc. Số khác là những nhà thơ, nhà văn yêu nước đã dùng ngòi bút để chiến đấu, để nói lên tâm tư, nguyện vọng và thái độ của mình trước cảnh nước mất, nhà tan. Bên cạnh lực lượng Nho sĩ, nhiều tầng lớp mới xuất hiện như tư sản, tiểu tư sản và vô sản, với những mục đích sống khác nhau. Tuy nhiên, sáng tác văn học giai đoạn này vẫn thuộc về tầng lớp Nho sĩ là chủ yếu, nên văn học vẫn chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến rõ nét.
Triều đình phong kiến tôn sùng Nho học, xem Nho giáo là quốc giáo, lợi dụng tôn giáo là công cụ để thống trị xã hội… Khổng, Mạnh, Trình… được xem là những vị thánh. Ngoài Nho giáo thì Ðạo giáo, Phật giáo và các tín ngưỡng khác cũng rất phát triển. Trước tình hình đó một số sĩ phu có tư tưởng canh tân như Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ… có dịp học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ nên đã nhiều lần đưa ra những kiến nghị cải cách xã hội. Nguyễn Trường Tộ đả kích lối học từ chương, hư văn, chủ trương học khoa học kỹ thuật, học thiên văn, địa lý, luật, sinh ngữ… Học tức là học cái chưa biết để mà biết, biết để mà làm (Tế cấp bát điều).
Ông say sưa với những đề nghị cải cách đất nước thậm chí viết cả trên giường bệnh. Giống như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch chủ trương mở rộng giao thiệp với nước ngoài, trọng việc học kỹ nghệ, nhưng triều đình đã không nghĩ gì đến vận nước nên nhiều bản điều trần của hai ông bị vùi trong quên lãng. Tư tưởng con người quay về với nề nếp nho gia, cổ hủ, có ảnh hưởng làm hạn chế sự phát triển của văn học đương thời. Giai cấp phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, lấy Nho giáo làm quốc giáo, dựa vào Nho giáo để thống trị nhân dân.
Trong mấy thế kỷ trước, khi chế độ phong kiến đang đi lên thì Nho giáo có vị trí của nó. Nhưng đến thời kỳ này chế độ phong kiến đã bước vào thời kỳ suy vong, khủng hoảng thì Nho giáo cũng bị đả kích, bị lung lay dữ dội. Những cái được gọi là tam cương, ngũ thường của Nho giáo đều bị sụp đổ. Sống trong thời đại Nho giáo như vậy, một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tầng lớp nhà nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tưởng.
Họ không tìm ra con đường đi, họ hoang mang trước thời cuộc, một số nhà nho bị bế tắc thực sự, họ mất hết niềm tin vào chính quyền, vào minh chúa, số đông đã lui về ở ẩn, hoặc đang làm quan lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, nhân cách của mình. Quê hương, dòng họ và gia đình Đặng Xuân Bảng Nguyên thủy gốc tích làng Hành Thiện xuất phát từ ấp Hộ Xá, làng Giao Thủy, huyện Hải Thanh (sau được nâng thành phủ). Làng Giao Thủy, có tên Nôm là làng Keo, là một làng cổ có từ trước thế kỷ thứ X. Cuối đời Lý, phần đất của ấp Hộ Xá bị sạt lở, một bộ phận dân cư của làng Giao Thủy di cư đến phía Nam vùng Lạc Quần, lập thành làng Hộ Xá (sau đổi thành Nghĩa Xá), thuộc phủ Hải Thanh (nay thuộc huyện Nam Trực, Nam Định).
Cả 2 làng cùng thờ phụng chung một ngôi chùa Keo (bấy giờ tên chữ được đổi thành Thần Quang tự). Thời nhà Trần, phủ Hải Thanh được đổi thành phủ Thiên Trường. Gần làng Nghĩa Xá có một vườn kim quất (cam ngọt), được các vua nhà Trần thường hay đến chơi, nên lập thành một trang ấp có tên là Hành Cung trang. [31, 19-24] Năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy, gây sạt lở cả làng Nghĩa Xá.
Dân làng Nghĩa Xá di dời vào định cư tại trang Hành Cung cũ, bờ ở hữu ngạn sông Hồng. Dân làng Giao Thủy định cư ở bờ tả ngạn, chếch về phía Tây Bắc, lập thành trang Dũng Nhuệ. Dân làng cũng cho xây dựng các chùa Keo mới tại gần trang ấp định cư, từ đó hình thành tên gọi làng Keo Thượng (hay Keo Trên) để chỉ trang Dũng Nhuệ và làng Keo Hạ (hay Keo Dưới) để chỉ trang Hành Cung. Trang Dũng Nhuệ, đến thời Tự Đức được đổi tên thành xã Dũng Nghĩa, thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định (nay thuộc huyện Vũ Thư, Thái Bình).
Còn trang Hành Cung từ năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) đã được đổi thành xã Hành Thiện, thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Trang Hành Cung đến cuối thời Hậu Lê thì được nâng lên thành xã Hành Cung. Năm 1823, vua Minh Mệnh cho đổi tên thành Hành Thiện (行善) với ý nghĩa "nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện" và ban cho làng 4 chữ "Mỹ tục khả phong" (美俗可風) với hàm ý khen ngợi. Lời ban tặng này cũng hàm ý khen ngợi làng Hành Thiện nổi tiếng là làng Nho học từ xưa, đã sản sinh rất nhiều danh nhân.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân số của làng cao nhất chỉ khoảng 6.