phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƢ TƢỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1. Công tác tƣ tƣởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1. Các khái niệm - Khái niệm tư tưởng Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong đó, là biểu hiện của quan hệ con người đối với thế giới xung quanh.
Tư tưởng còn được hiểu là sự suy nghĩ, là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội. Tư tưởng tiến bộ, tư tưởng cách mạng có tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển. Tư tưởng lạc hậu, phản động sẽ có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, đời sống xã hội có hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; do đó, có hai lĩnh vực sản xuất là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần để đáp ứng các nhu cầu đó.
Tư tưởng và quan điểm tư tưởng thuộc lĩnh vực tinh thần, ý thức xã hội; chịu sự tác động mang tính quyết định của tồn tại xã hội, của lĩnh vực vật chất. Khi tồn tại xã hội thay đổi thì sớm hay muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Mác đã khẳng định: “Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ mà chính tồn tại của họ quyết định ý thức của họ” [11, tr. Bất cứ tư tưởng nào cũng đều do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định.
Nhưng, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, tác động tích cực trở lại tồn tại xã hội, góp phần cải tạo thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội, mỗi người không ngừng nhận thức thế giới, hình thành những khái niệm trong ý thức của họ. Nhưng do mục đích của quá trình nhận thức là nhằm cải tạo hiện thực khách quan, nên ý thức của con người 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không chỉ dừng lại ở các khái niệm, mà từ các khái niệm đó hình thành nên những chủ kiến, dự định, kế hoạch hành động của họ. Vì vậy, tư tưởng là hình thức cao của nhận thức, là những mục tiêu, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan.
Là sản phẩm chủ quan của con người, nhưng tư tưởng của mỗi người lại phụ thuộc chặt chẽ vào đối tượng phản ánh và trình độ nhận thức của họ. Sự vận động và phát triển của thực tại khách quan tác động vào tư tưởng và làm thay đổi nhận thức, tư tưởng của con người. Như vậy, tư tưởng là sản phẩm của sự phản ánh hiện thực thông qua trí óc con người. Tư tưởng xuất hiện trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn có tác động trở lại cơ sở kinh tế làm nảy sinh ra nó và có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế trong những giới hạn nhất định, thông qua hoạt động của những lực lượng xã hội.
Sự tác động này diễn ra theo hai chiều hướng khác nhau: thúc đẩy hoặc kìm hãm. Tư tưởng tiến bộ, cách mạng, khoa học mang tính vượt trước trên cơ sở nắm bắt được quy luật khách quan có vai trò to lớn, tác động tích cực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội. Tư tưởng lạc hậu, lỗi thời, phản động sẽ tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Tính chất, hậu quả tác động của ý thức xã hội nói chung và tư tưởng nói riêng phụ thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp thống trị xã hội, thể hiện ở trình độ của sự phù hợp giữa ý thức, tư tưởng đối với hiện thực, mức độ truyền bá, sự thâm nhập của ý thức, tư tưởng vào các tầng lớp nhân dân.
Tư tưởng của con người luôn gắn liền với lợi ích; quan hệ lợi ích tác động trở lại tư tưởng, chi phối quá trình nhận thức và hoạt động của con người. Lênin: “những lý tưởng cao cả nhất cũng không đáng giá một xu nhỏ, chừng nào mà người ta không biết kết hợp chặt chẽ những lý tưởng đó với lợi ích của chính ngay những người đang tham gia cuộc đấu tranh kinh tế” [80, tr. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà tư tưởng thường bảo vệ lợi ích giai cấp mình dưới hình thức lý tưởng hóa, tức là gắn cho giai cấp mình sứ mệnh đại diện chân chính cho toàn xã hội và do đó, lợi ích mà họ bảo vệ được xem là lợi ích chung phổ biến của toàn xã hội. Trong xã hội có giai cấp, những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là những tư tưởng của giai cấp thống trị; luôn có sự đấu tranh tư tưởng giữa các giai cấp để truyền bá, thu phục, lôi kéo các tầng lớp nhân dân theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình; biến tư tưởng thành sức mạnh hành động nhằm giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp.
Đấu tranh tư tưởng là một trong những hình thức đấu tranh giai cấp trong xã hội. Trong lịch sử, các giai cấp thống trị xã hội đã phát triển tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (về chính trị, triết học, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo.) phản ánh lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tư tưởng.
Theo Từ điển Triết học, tư tưởng là “một hình thái phản ánh thế giới xung quanh con người, tổng hợp các quan niệm, khái niệm thành một thể duy nhất” [76, tr. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tư tưởng là những “quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội”[14, tr. Nhìn chung, tư tưởng là suy nghĩ, là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội. - Hệ tư tưởng: Con người có nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Để thỏa mãn nhu cầu vật chất, con người tổ chức các quá trình sản xuất vật chất; để thỏa mãn nhu cầu tinh thần thì con người cũng có quá trình sản xuất ra sản phẩm tinh thần. Khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp đối kháng nhau về lợi ích căn bản cũng nảy sinh nhu cầu sản xuất ra hệ tư tưởng để phản ánh, luận chứng cho địa vị và bảo vệ lợi ích giai cấp, chống lại giai cấp đối kháng. Do đó lịch sử cũng bắt đầu quá trình đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, từ đó đề ra nhu cầu sản xuất và truyền bá các hệ tư tưởng. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ tư tưởng là sự phản ánh của lợi ích và lập trường giai cấp dưới hình thái lý luận.
CTTT ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển, truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, biến hệ tư tưởng của giai cấp thống trị thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. - Công tác tư tưởng: Quan niệm công tác tư tưởng có hai cách tiếp cận chính: Cách hiểu theo nghĩa rộng: Quá trình sản xuất và truyền bá hệ tư tưởng làm xuất hiện các quan hệ tư tưởng, tức là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và truyền bá hệ tư tưởng (các quan hệ này là sự phản ánh về tinh thần của các quan hệ sản xuất) và các quá trình tư tưởng, tức là quá trình sản xuất hệ tư tưởng (hình thành và phát triển hệ thống quan điểm lý luận) quá trình tái sản xuất hệ tư tưởng (truyền bá hệ tư tưởng), quá trình biến tư tưởng thành sức mạnh vật chất thành hành động của con người (“vật chất hoá”hệ tư tưởng). CTTT theo nghĩa rộng nhất là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng. Cách hiểu theo nghĩa hẹp Với nghĩa hẹp, người ta quan niệm CTTT chỉ là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối, chủ trương chính sách của đảng trong quần chúng; động viên, cổ vũ quần chúng tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thực chất của quan niệm này là không coi công tác lý luận là một bộ phận hợp thành của CTTT, đồng nhất CTTT với công tác tuyên truyền và công tác cổ động. Đây là quan niệm phiến diện, thiếu cơ sở khoa học về CTTT. Trong lịch sử, CTTT xuất hiện và tồn tại khi có các điều kiện sau: - Có hệ tư tưởng của các giai cấp và có truyền bá, đấu tranh tư tưởng. - Có các thiết chế tư tưởng, bao gồm thiết chế nghiên cứu, sáng tạo, truyền bá, lưu giữ hệ tư tưởng và thiết chế đào tạo các nhà tư tưởng.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có đội ngũ những nhà tư tưởng lấy hoạt động nghiên cứu, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng cho một giai cấp nhất định làm nghề nghiệp của mình. Vì vậy, để tăng cường hoạt động tư tưởng, thúc đẩy quá trình hoàn thiện, phổ biến rộng rãi hệ tư tưởng trong xã hội, các giai cấp thống trị, các đảng chính trị và nhà nước rất quan tâm chăm lo, củng cố các điều kiện trên. - CTTT của Đảng Để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, Đảng phải tiến hành CTTT. CTTT của Đảng được tiến hành trong tất cả các lĩnh vực hoạt động nhằm tác động vào toàn bộ ý thức con người, từ cung cấp thông tin đến giáo dục lý luận, đường lối, chính sách, pháp luật, văn hóa; bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, định hướng giá trị tư tưởng, lối sống và nhân cách.
Đó là hoạt động quan trọng bậc nhất của Đảng.