Chương 1: Đảng bộ huyện Đồng Hỷ lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 Chương 2: Đảng bộ huyện Đồng Hỷ đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2013 Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐỒNG HỶ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất của Huyện Đồng Hỷ trƣớc năm 2000. Điều kiện tự nhiên- kinh tế - xã hội Vị trí địa lý - Đồng Hỷ là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, có diện tích đất tự nhiên là 455,24 km², huyện có 18 xã và 3 thị trấn; dân số 110,170 người, trong đó ở độ tuổi lao động chiếm khoảng 55%. Phía Bắc của huyện Đồng Hỷ tiếp giáp với huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn.
Phía Nam Giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, Phía Đông: Giáp tỉnh Bắc Giang, Phía Tây: Giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên. Đồng Hỷ có vị trí địa lí thuận lợi nằm sát với thành phố Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa, đồng thời gần với các khu công nghiệp lớn của tỉnh Thái Nguyên. Hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh với quốc lộ 1B dài 13,5 km nối liền với quốc lộ 3 tại vị trí cầu Cao Ngạn và có tỉnh lộ 269 dài 27,3 km nối từ trung tâm huyện tới giáp tỉnh Bắc Giang, đường thủy dọc theo sông Cầu từ Huống Thượng đến xã Văn Lăng, dài khoảng 40 km, đường huyện có 12 tuyến với tổng chiều dài 108 km, trong đó có 74 km là đường nhựa, còn lại là đường cấp phối, đường xã có tổng chiều dài trên 390 km, trong đó đã bê tông hóa 180 km được phân bố tương đối đồng đều trên 18 xã, thị trấn. rất thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hóa với các địa phương trong vùng.
Từ vị trí địa lý đó đã giúp cho Đồng Hỷ có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa hình Địa hình huyện Đồng Hỷ có độ dốc thoai thoải từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Phía Bắc và Đông Bắc huyện thuộc dãy núi đá vôi Bắc Sơn hùng vĩ. Các xã Văn Lăng, Tân Long, Hoà Bình, Quang Sơn và kéo dài xuống phía Nam huyện có những khối núi đá vôi đồ sộ, có đỉnh cao tới 600 mét.
Các xã phía Bắc và Đông Bắc của huyện thuộc vùng núi cao, độ cao trung bình là 120 mét so với mặt nước biển. Tiếp dãy núi đá lớn là vùng đồi núi thấp nhiều đồi hình bát úp, độ cao từ 50 đến 60 mét, có khả năng phát triển cây công nghiệp (mía, lạc, chè…). Các xã nằm phía hạ lưu sông Cầu có độ cao trung bình 20 mét so với mặt nước biển với những cánh đồng bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển lúa nước và cây thực phẩm ( rau xanh, đậu…). Khí hậu Khí hậu Đồng Hỷ nằm ở vùng Bắc chí tuyến, trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu ở đây mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa.
Mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình là 22 độ C. Số giờ nắng trong năm là 1. Mỗi năm ở Đồng Hỷ trung bình có khoảng 21 - 22 đợt gió mùa Đông Bắc tràn qua.
Đất đai Đất Đồng Hỷ có nhiều loại khác nhau, trong đó núi chiếm 49% hình thành do sự phong phú trên đá mác ma, đá biến chất, đá trầm tích. Đất đồi chiếm 36%, chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết, phiến sét và một phần phù xa cổ kiến tạo. Ruộng đất bãi chiếm hơn 10% được phân phối dọc theo sông, suối chịu tác động của chế độ thủy văn. Loại đất có giá trị sử dụng trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là đất feralit mầu nâu vàng phát triển trên đá phù sa cổ, tập trung chủ yếu ở các xã Tân Long, Hóa Trung… tạo điều kiện cho phát triển cây công nghiệp dài ngày (chè) và cây công nghiệp hàng ngày (mía, lạc), cây ăn quả (vải, nhãn, táo); đồng thời có khả năng cải tạo làm đồng cỏ phát triển chăn nuôi.
Bên cạnh đó đất phù sa được bồi đắp bởi các sông như: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sông Cầu, Sông Công. phân bố trên một dải đất rộng tập trung nhiều ở một số xã: Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Cam Giá … rất thích hợp trong việc trồng các loại cây rau mầu, cây lương thực. Sông ngòi Mật độ sông, suối của Đồng Hỷ bình quân là 0,2 km/km2, tất cả đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc, Đông Bắc và đều chảy vào sông Cầu. Sông Cầu chảy theo hướng Bắc - Nam là biên giới phía Tây của huyện với độ dài 47 km, là nguồn cung cấp nước chính, có tiềm năng khai thác vận tải thuỷ.
Theo đánh giá của các nhà địa chất, mạch nước ngầm của Đồng Hỷ có trữ lượng lớn, đủ cung cấp nước sinh hoạt cho năm, bảy trăm ngàn dân. Ngoài ra, huyện còn có nhiều sông suối như suối Thác Rạc, Khe Mo, Ngàn Mo…và nhiều hồ nước nhỏ để phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Giao thông Về giao thông, tổng chiều dài đường bộ của huyện Đồng Hỷ là 729,8 km, trong đó có quốc lộ 1B qua địa bàn huyện dài 15,5 km, đường liên tỉnh dài 27 km, đường liên huyện dài 57,5 km, đường liên xã 171 km, đường liên xóm 404 km. Mật độ giao thông toàn huyện bình quân đạt 13,4 km/km2, ô tô vận tải cỡ lớn có thể đến được trung tâm tất cả các xã trong huyện, đây là điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hoá kinh tế trong huyện ngày càng phát triển.
Khoáng sản Đồng Hỷ nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương nên tài nguyên khoáng sản rất phong phú như: vàng, sắt phục vụ cho các ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim. Ngoài ra Đồng Hỷ có lợi thế lớn về nguồn tài nguyên rừng với các loại cây như: cỏ tranh, lá cọ, tre, nứa, mây, sa nhân; các loại gỗ như: gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ tấu, gỗ xoan… Tài nguyên rừng hiện nay của huyện chủ yếu là rừng tái sinh. Do chịu tác động của điều kiện khí hậu có mùa khô lạnh, đất đai bị xói mòn, địa hình lại dễ khai thác nên nguồn thổ sản đã trở nên nghèo kiệt. Trong rừng còn rất ít gỗ quý chủ yếu là các cây mọc nhanh như: dẻ, thông, thành 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngạnh v v… Về động vật, chủng loại cũng chỉ tập trung ở một số loài: chim, chồn, sóc v.v… Nhìn chung, với vị trí và điều kiện tự nhiên trên, Đồng Hỷ có những điều kiện cơ bản để phát triển nông nghiệp nhiệt đới, đẩy mạnh kinh tế hàng hoá giữa các vùng.
Từ đó, tạo điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo đời sống cho nhân dân. Điều kiện kinh tế- xã hội Dân cư và nguồn lao động Tính đến tháng 12-2006, dân số Đồng Hỷ là 124.722 người, gồm 28.741 hộ, trong đó dân tộc Kinh chiếm 63,3%, Nùng 13,2%, Dao 4,4%, Tày 2,5%, Mông khoảng 1,6%, còn lại là các dân tộc khác. Dân số nông thôn 56,29%, đô thị là 13,71%, trong đó lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 73,5% còn lại là lao động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng dân số Đồng Hỷ ở thập kỷ cuối của thế kỷ XX có xu hướng giảm dần từ 2,09% năm 1991 xuống 2% năm 1995; 1,86% năm 1998.
Những năm đầu thập niên thế kỷ XXI tốc độ tăng dân số của huyện ngày càng giảm, năm 2010 tốc độ tăng dân số là 1,1%. Mật độ dân cư của huyện là 215 người/km2 (toàn tỉnh là 303 người/km2), sự phân bố dân cư của huyện là không đồng đều có sự chênh lệch tương đối lớn, cao nhất là thị trấn Chùa Hang 2.996 người/km2 và thấp nhất là xã Hợp Tiến 53 người/km2[ 1, tr 3]. Đồng Hỷ có kết cấu dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm trên 50% dân số của huyện. Đây là nguồn lao động dồi dào phục vụ quá trình sản xuất, đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó có hoạt động sản xuất kinh tế nông nghiệp.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Hệ thống giao thông của huyện tương đối hoàn chỉnh với quốc lộ 1B dài 13,5 Km² nối liền với quốc lộ 3 tại vị trí cầu Cao Ngạn và có tỉnh lộ 269 dài 27,3 Km² nối từ trung tâm huyện tới giáp tỉnh Bắc Giang, đường thủy dọc theo sông Cầu từ Huống Thượng đến xã Văn Lăng, dài khoảng 40 Km, đường huyện có 12 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuyến với tổng chiều dài 108 km, trong đó có 74 km là đường nhựa, còn lại là đường cấp phối, đường xã có tổng chiều dài trên 390 km, trong đó đã bê tông hóa 180 km được phân bố tương đối đồng đều trên 18 xã, thị trấn. rất thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hóa với các địa phương trong vùng. Lưới điện Đến năm 2005 toàn bộ huyện đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Việc được sử dụng điện đã tác động to lớn đến đời sống của nhân dân, lưới điện được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày và tham gia vào quá trình sản xuất của người dân cũng như của các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất chế biến những sản phẩm nông nghiệp Hệ thống thủy lợi Trên địa bàn của huyện có nhiều các hồ chứa nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Đặc biệt trên địa bàn huyện có dòng sông Cầu chảy qua đây là nguồn nước quan trọng phục vụ sản xuất cũng như đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân. Hệ thống máy móc phục vụ nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp của huyện với lao động thủ công là chính. Trong những năm gần đây, tốc độ cơ giới hóa nông nghiệp ngày càng tăng nên việc sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay cũng khá phổ biến như: máy làm đất nhỏ, máy vận chuyển, máy xay xát, máy bơm điện, máy sao chè cải tiến, máy tẽ ngô.