Tổng quan nghiên cứu

Châu bản triều Nguyễn là khối tư liệu độc bản đồ sộ, với 743 tập văn bản hành chính hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, trong đó 611 tập gốc và 132 tập mới bổ sung. Đây là di sản chứa đựng giá trị đa ngành: sử học, văn bản học, thư tịch học và ngôn ngữ học. Tuy nhiên, phần lớn các công trình đi trước — từ bộ Mục lục châu bản triều Nguyễn tập I (1960, gồm 723 văn bản triều Gia Long) đến tập II (1962, gồm 971 văn bản triều Minh Mệnh) — mới dừng ở biên mục, trích dịch và khai thác giá trị sử liệu.

Luận văn thạc sĩ Hán Nôm của tác giả Bùi Lê Nhật, bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, đặt vấn đề ở một khoảng trống rõ rệt: đặc điểm ngôn ngữ của sáu thể loại văn bản hành chính chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư trong châu bản.

Mục tiêu nghiên cứu gồm hai nhiệm vụ: phân loại nhóm ngôn ngữ và phân tích đặc điểm từng nhóm trong văn bản quản lý nhà nước Việt Nam giai đoạn 1802–1945. Phạm vi tư liệu giới hạn ở các văn bản châu bản viết bằng chữ Hán, bỏ qua bộ phận quốc ngữ và tiếng Pháp. Về khung thời gian, luận văn chủ ý loại trừ những thể loại chỉ tồn tại một triều vua như công đồng truyền, công đồng sai, công đồng khiển, công đồng phó, công đồng di — vốn chỉ dùng thời Gia Long — để tập trung vào sáu thể thức xuyên suốt 143 năm tồn tại của vương triều.

Ý nghĩa của công trình nằm ở chỗ giai đoạn triều Nguyễn chính là thời kỳ quá độ của ngôn ngữ viết Việt Nam: vừa kế thừa văn ngôn hành chính trung đại Trung Hoa hơn 4000 năm, vừa va chạm với tiếng Pháp trong bối cảnh bảo hộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử theo chủ nghĩa Mác – Lênin, đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ đa chiều giữa tác nhân chủ quan (tâm lý chủ thể sử dụng) và tác nhân khách quan (bối cảnh địa lý – xã hội), đồng thời nhấn mạnh tính kế thừa lịch sử.

Song song đó, tác giả vận dụng lý thuyết ba bình diện của chỉnh thể ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Ngữ âm là biểu nghĩa bằng âm của từ vựng; từ vựng là thành tố hạt nhân; ngữ pháp là kết cấu tổ chức của các hạt nhân ấy. Dù văn bản hành chính là ngôn ngữ viết, luận văn vẫn giữ lại bình diện ngữ âm vì thanh điệu bằng trắc là tiền đề bắt buộc để lý giải thủ pháp đối ngẫu.

Năm khái niệm chính được thao tác hóa gồm: (1) châu bản — văn bản đã qua ngự lãm và ngự phê bằng bút son, với bốn hình thức châu phê, châu điểm, châu khuyên, châu mạt; (2) châu bản hành chính — nhóm văn bản quản lý nhà nước trong châu bản; (3) tính quan phương; (4) tính quyền uy, tôn ti, trật tự; (5) vận thanh đối ngẫu. Luận văn cũng kế thừa cách phân loại văn thể thành bốn nhóm: chiếu lệnh, tấu nghị, quan phủ và chuyên dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu là các văn bản gốc tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, đối chiếu bổ sung với 80 tập châu bản triều Bảo Đại lưu tại tư gia nhà nghiên cứu Phan Thuận An (Huế), 01 châu bản triều Minh Mạng tại gia đình ông Đặng Lên (huyện đảo Lý Sơn), cùng 64 cuộn microfilm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, trong đó 5 cuộn thuộc triều Gia Long và 59 cuộn thuộc triều Minh Mạng.

Về cỡ mẫu và cách chọn mẫu, luận văn không khảo sát toàn bộ khối tư liệu mà áp dụng chọn mẫu có chủ đích: tuyển những văn bản tiêu biểu của đủ sáu thể loại. Lý do lựa chọn được tác giả nêu rõ và có sức thuyết phục — văn bản hành chính vốn chuẩn mực theo khuôn mẫu định sẵn, nên mẫu tiêu biểu vẫn đủ đại diện cho hệ thống ngôn ngữ.

Bốn phương pháp phân tích được phối hợp: so sánh lịch sử (truy nguyên biến thiên thể loại từ Tiên Tần đến Thanh), loại hình khu vực (định vị trong nhóm ngôn ngữ Hán Tạng và văn ngôn hành chính Đông Á), tổng hợp bình chú (xử lý những văn bản đạt tầm nghệ thuật văn học), và so sánh liên văn bản – liên ngôn ngữ. Timeline nghiên cứu trải từ khi đăng ký đề tài đến khi bảo vệ năm 2013, với cơ cấu luận văn gồm phần mở đầu, hai chương nội dung và phần kết luận, tổng độ dài khoảng 103 trang chính văn kèm phụ lục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống thể loại có tính kế thừa cực cao nhưng nội hàm biến đổi liên tục. Sáu thể loại đều khởi nguồn từ phương thức khẩu truyền. Mốc 221 TCN đánh dấu bước ngoặt: nhà Tần "đổi lệnh làm chiếu, đổi mệnh làm chế", khai tử hoàn toàn hai thể mệnh và lệnh cũ để tạo ba thể mới. Đầu Tây Hán, mệnh lệnh thiên tử được chia thành 4 loại (sách thư, chế thư, chiếu thư, hình sắc), còn văn bản quần thần tấu lên chia thành 4 loại (chương, tấu, biểu, bác nghị). Đến triều Thanh, thể tấu rút gọn dần: bỏ tấu bản từ đời Càn Long, bỏ đề bản từ đời Quang Tự, cuối cùng chỉ còn tấu triết là văn thư chính thức duy nhất.

Thứ hai, bố cục hình thức châu bản tuân theo cấu trúc ba phần với 10 thành tố. Phần mở đầu gồm 1 thành tố (xuất xứ), phần chính văn gồm 4 thành tố (khởi ngữ, tên loại văn bản, chính văn, kết ngữ), phần kết thúc gồm 5 thành tố (châu dụ/châu phê, cơ quan phụng duyệt, thời gian, chữ ký, dấu ấn). Nếu trình bày dưới dạng bảng đối chiếu ngang giữa sáu thể loại, có thể thấy rõ điểm khác biệt tập trung gần như hoàn toàn ở hai thành tố khởi ngữ và kết ngữ.

Thứ ba, mỗi thể loại có bộ công thức ngữ vựng cố định. Chiếu mở đầu bằng "Thừa thiên hưng vận", "hoàng đế chiếu viết", kết bằng "khâm tai đặc chiếu". Chỉ mở bằng "chỉ", "minh chỉ", "thánh chỉ", kết bằng "khâm thử". Tư dùng chuỗi "vi tư sự", "vi tư trình sự", "tư chiếu", "cứ như", kết bằng "tu chí tư tri giả" và "hữu tư tri". Đặc biệt, nội dung châu phê chỉ có thể chỉ gồm 3 chữ ("tri đạo liễu") hoặc 1 chữ ("y", "khả", "thị").

Thứ tư, chế độ bảo hộ Pháp làm đảo lộn tương quan chức năng giữa các thể loại. Chiếu, chỉ, dụ, biểu bị thu hẹp về việc riêng của hoàng tộc: thông cáo lên ngôi, lập hoàng hậu, vấn an, sửa chữa cung thất. Ngược lại, tấu và tư vươn lên thành hai văn bản trọng yếu. Các văn bản giai đoạn này từng được soạn đồng thời bằng 3 thứ tiếng Hán – Việt – Pháp trên 2 thể chữ tượng hình và la-tinh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tính ổn định thể loại nằm ở tư tưởng "sự cổ, tập cổ" của xã hội phương Đông độc tôn Nho giáo, luôn lấy phép tắc cổ nhân làm khuôn mẫu. Điều này giải thích vì sao khoảng cách hơn 2000 năm giữa triều Tần và triều Nguyễn không xóa được các đặc trưng bất biến của thể loại.

So với công trình đi trước, phát hiện của luận văn bổ sung đáng kể. Luận văn thạc sĩ Cấu trúc nội tại của loại hình châu bản trên cứ liệu châu bản triều Minh Mạng của Nguyễn Thu Hoài (2011) mới dừng ở đặc điểm hình thức, chưa nhắc tới khía cạnh ngôn ngữ. Công trình Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn: Giai đoạn 1802–1884 của Vũ Thị Phụng tiếp cận từ góc độ kỹ thuật soạn thảo và phương thức ban hành. Nghiên cứu này lấp khoảng trống giữa hai hướng ấy.

Ý nghĩa lớn nhất là cảnh báo về nguy cơ mất mát tư liệu: hiện chỉ còn một bộ phận nhỏ châu bản đời Bảo Đại giữ nguyên thể cách ba văn bản đồng hành, phần lớn đã bị phân tách rời lẻ để tu bổ và quản lý theo ngôn ngữ, và các đầu mối liên lạc giữa chúng chưa ai khảo cứu.

Đề xuất và khuyến nghị

Phục dựng mối liên kết giữa các văn bản Hán – Việt – Pháp đồng hành. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I nên chủ trì xây dựng bộ tiêu chí đối chiếu dựa trên niên hiệu, cơ quan ban hành và nội dung sự vụ, đặt mục tiêu khôi phục liên kết cho ít nhất một phần ba số tập giai đoạn bảo hộ trong vòng 3 năm. Bộ 80 tập triều Bảo Đại còn nguyên thể cách tại tư gia Phan Thuận An là mẫu chuẩn để đối sánh.

Số hóa toàn văn kèm chuẩn mô tả ngôn ngữ học. Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cần mở rộng số hóa vượt khỏi mức 64 cuộn microfilm hiện có, bổ sung trường siêu dữ liệu ghi nhận khởi ngữ, kết ngữ và loại hình châu phê cho từng văn bản. Lộ trình đề xuất 5 năm, ưu tiên trước các tập hỏng nặng.

Xây dựng từ điển thuật ngữ hành chính Hán văn triều Nguyễn. Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với các khoa Hán Nôm biên soạn từ điển chuyên ngành thu thập tối thiểu vài nghìn mục từ công thức, bao quát đủ sáu thể loại, kèm trích dẫn xuất xứ văn bản gốc. Đây là công cụ thiếu vắng mà cả Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu lẫn Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh đều không đáp ứng được vì không hướng tới văn bản hành chính cụ thể.

Đưa nội dung ngôn ngữ văn bản hành chính trung đại vào chương trình đào tạo. Các cơ sở đào tạo Hán Nôm và lưu trữ – quản trị văn phòng nên bổ sung ít nhất 2 tín chỉ chuyên đề, khắc phục thực trạng các giáo trình hiện hành mới dừng ở mức đặt vấn đề.

Mở rộng nghiên cứu sang bộ phận châu bản quốc ngữ và tiếng Pháp. Đây là phần luận văn chủ ý bỏ qua do giới hạn chuyên ngành, nhưng lại chính là nơi ghi dấu quá trình chuyển đổi ngôn ngữ hành chính rõ nét nhất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu Hán Nôm và ngôn ngữ học lịch sử. Đây là nhóm hưởng lợi trực tiếp nhất. Luận văn cung cấp hệ thống công thức ngữ vựng đã được xác lập cho đủ sáu thể loại, cùng phần lịch sử vấn đề dày dặn trải từ Độc đoạn của Sái Ung, Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đến các công trình hiện đại. Use case điển hình: dùng làm khung đối chiếu khi khảo cứu một văn bản châu bản chưa định danh thể loại.

Cán bộ lưu trữ và văn bản học. Sơ đồ bố cục 10 thành tố và bảng phân loại bốn hình thức ngự phê là công cụ trực tiếp cho công tác biên mục, phân loại và mô tả tài liệu. Với khối 743 tập hiện hành, đây là bộ tiêu chí chuẩn hóa khả dụng ngay.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Hán Nôm, lịch sử, lưu trữ. Phần lịch sử vấn đề chiếm khoảng 15 trang, hệ thống hóa thành tựu nghiên cứu ở cả Trung Quốc và Việt Nam theo phân kỳ sử học, là nguồn tổng quan tài liệu tiết kiệm rất nhiều công sức. Danh mục tài liệu tham khảo trải dài từ trang 93 đến trang 102.

Cán bộ ngành hành chính và quản trị văn phòng. Nhóm này tìm thấy ở luận văn mô hình quy trình soạn thảo – ban hành nhiều tầng: phụng thảo, phụng khảo, phụng duyệt, rồi qua bộ phận xét duyệt chuyên trách của hoàng đế. Quy định thời hạn xử lý theo cấp độ việc — 1 ngày cho việc cần cấp, 3 ngày cho việc cần kê cứu, 10 ngày cho việc phiền phức — là tham chiếu lịch sử thú vị cho thiết kế quy trình hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Châu bản khác gì với văn bản hành chính thông thường của triều Nguyễn? Điểm phân biệt duy nhất và quyết định là dấu vết bút son của hoàng đế. Một văn bản chỉ trở thành châu bản khi đã qua "ngự lãm" và "ngự phê". Bút son là đặc quyền tuyệt đối của hoàng đế trong quan niệm phương Đông cổ trung đại. Do quy trình đóng tập theo hồ sơ, nhiều tư văn, phiến lục vốn là công văn ngang cấp vẫn mang châu điểm.

Vì sao luận văn chọn đúng sáu thể loại chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư? Vì đây là những thể thức được sử dụng xuyên suốt mọi đời vua từ 1802 đến 1945. Các thể loại như công đồng phó, công đồng sai, công đồng khiển, công đồng di chỉ tồn tại thời Gia Long nên không đủ cơ sở để khái quát đặc điểm chung của cả giai đoạn. Sáu thể loại này cũng phủ đủ ba chiều vận hành: từ vua xuống, từ thần lên, và trao đổi ngang cấp.

Chỉ và dụ khác nhau thế nào? Dụ (thượng dụ) mang tính huấn thị, răn dạy, có nội dung mở rộng và dài hơn, có thể đứng độc lập. Chỉ chủ yếu để phê chuẩn, phúc đáp tấu thỉnh, lưu hành trong nội bộ triều đình, nội dung có khi chỉ một chữ "y" hoặc "khả". Đáng lưu ý, giai đoạn đầu triều Gia Long hai thể này chưa phân biệt rạch ròi; từ đời Minh Mạng mới được phân định rõ theo quy tắc Thanh triều.

Tại sao phải bàn đến ngữ âm khi nghiên cứu văn bản viết? Vì việc vận dụng thanh điệu bằng trắc vào câu văn là đặc điểm nổi bật của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc thời cổ trung đại. Không xử lý bình diện ngữ âm thì không thể làm rõ thủ pháp vận thanh đối ngẫu — vốn là một trong hai cấu trúc ngữ vựng đặc trưng mà luận văn phân tích ở chương 2, bên cạnh thủ pháp trích dẫn.

Vì sao trong châu bản có nhiều trích dẫn đến vậy? Đây là hệ quả trực tiếp của quy trình soạn thảo và trung chuyển công văn phức tạp. Văn bản tấu đầu tiên của một tập thường phải sao lục nội dung các văn bản tương quan đính kèm. Trích dẫn dụ chỉ luôn được đánh dấu bằng "khâm phụng" ở dòng trước và "khâm thử" ở cuối; trích dẫn văn bản hoặc điều khoản luật dùng cụm "cứ như".

Kết luận

  • Luận văn xác lập bức tranh tổng quát về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản quản lý nhà nước trong châu bản giai đoạn 1802–1945 trên hai khía cạnh từ vựng và ngữ pháp — khoảng trống mà toàn bộ các công trình biên mục, tuyển dịch trước đó chưa chạm tới.
  • Sáu thể loại chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư được truy nguyên đầy đủ từ giai đoạn tiền đề thế kỷ XXI–III TCN, qua mốc định hình triều Tần năm 221 TCN, đến điểm kết thúc chức năng năm 1911 tại Trung Quốc và 1945 tại Việt Nam.
  • Bốn đặc trưng ngôn ngữ được định danh: tính quan phương, tính quyền uy – tôn ti – trật tự, tính công vụ chính xác song hành tính văn học nghệ thuật, cùng hai thủ pháp trích dẫn và vận thanh đối ngẫu.
  • Công trình là tư liệu tham khảo cho các nhà ngôn ngữ học, văn bản học, hành chính học và người nghiên cứu châu bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng sang bộ phận châu bản quốc ngữ và tiếng Pháp, đồng thời phục dựng liên kết giữa các văn bản đa ngữ đã bị phân tách.

Với khối 743 tập tài liệu còn đó và phần lớn chưa được khảo sát ở bình diện ngôn ngữ, đây là cánh cửa còn rộng mở cho những ai muốn hiểu tiếng Việt đã chuyển mình từ trung đại lên hiện đại như thế nào.