Chương 1: Cơ sở lí thuyết của luận văn. Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và cách định danh của các từ ngữ chỉ đồ gia dụng trong tiếng Việt và tiếng Hán. Chương 3: Yếu tố văn hóa của các từ chỉ đồ gia dụng trongtiếng Việt và tiếng Hán. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 1.1Một số vấn đề về trƣờng từ vựng-ngữ nghĩa 1.1 Khái niệm trường từ vựng ngữ nghĩa Trường từ vựng ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa.
Ví dụ: Lụa là, the, lĩnh. các từ này chỉ vải vóc Nấu, nướng, kho, xào.chỉ hoạt động làm chín thức ăn Nghiên cứu về lý thuyết trường nghĩa được bất đầu từ giữa thế kỷ 19 với những ý tưởng đầu tiên về mối quan hệ giữa ngôn và ý thức của nhà khoa học người Đức W. Humbodt đã trở thành tiền đề cho các lý thuyết sau này về trường từ vựng ngữ nghĩa- ngữ nghĩa khi phản ánh sự khác nhau trong khả năng nhận thức thế giới và đặc trưng của từng nhóm sắc tộc. TS Đỗ Hữu Châu, (2007) Giáo trình Ngữ dụng học:” tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng”.
Điều này có nghĩa liên hệ về mặt ngữ nghĩa của từ chỉ được thấy rõ khi đặt từ trong tiểu hệ thống ngữ nghĩa (hay trường nghĩa). Từ vựng của một ngôn ngữ là một hệ thống thường gồm hàng trăm nghìn từ, mỗi từ trong hệ thống bao giờ cũng đối lập với những từ còn lại và chỉ có giá trị khi được đặt trong mối tương quan với các từ khác trong hệ thống. Theo Đỗ Hữu Châu, để hiểu được thấu đáo nghĩa của từ, không thể tách từ ra khỏi hệ thống, càng không thể đặt từ vào mối liên hệ với các từ chọn ngẫu nhiên. Từ quan điểm này, ông chia trường nghĩa thành 3 loại gồm: - Trường nghĩa đối vị ( trường nghĩa dọc): Hệ thống từ vựng được chia thành các trường nghĩa trực tuyến ( trường nghĩa dọc) với nhiều cấp độ trên cơ sở các nét nghĩa phạm trù từ chung nhất, nhỏ hơn, nét nghĩa loại, hạng và riêng biệt.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trường nghĩa tuyến tinh/ kết hợp ( trường nghĩa ngang): Từ và đơn vị từ còn có khả năng kết hợp với nhau theo trật tự trước sau_kết hợp theo chiều ngang, chiều tuyến tính. - Trường nghĩa liên hội/ tổng hợp ( trường nghĩa liên tưởng): Khi một từ được phát ra, người nghe sẽ lĩnh hội ý nghĩa riêng của từ ấy, đồng thời cũng có thể liên tưởng đến ý nghĩa khác có liên quan đến nhiều sự kiện xã hội, cá nhân phong phú và sinh động.2 Đặc điểm của trường từ vựng- ngữ nghĩa Tổng hợp ý kiến của các tác giả đã nêu ở trên cho thấy, trường từ vựng- ngữ nghĩa có 7 đặc điểm như sau: 1) Tính thứ tự: do khả năng khái quát ngữ nghĩa khác nhau giữa các từ, vì vậy những từ khả năng khái quát lớn hơn thì nằm ở cao cấp, những từ khả năng khái quát nhỏ hơn thì nằm ở cấp thấp, chính là tính thứ tự của trường nghĩa. 2) Tính dân tộc: dân tộc khác nhau thì nhận thức thế giới khác nhau. 3) Tính đa dạng: quan hệ giữa các sự vật là đa dạng hơn, vì vậy quan hệ của khái niệm phản ánh sự vật cũng đa dạng.
4) Tính biến đổi: ngôn ngữ nào cũng đều có sự phát triên biến đổi theo tiến trình lịch sử, đó không những để thể hiện từ cũ biến mất và từ mới được tạo ra, mà còn để thể hiện sự biến đổi của từ vựng. Vì vậy trường nghĩa cũng biến đổi. Ví dụ: từ “bird” trong lịch sử được dung với nghĩa tương đương tiếng Việt là “ chim con”, nhưng hiện nay lại dùng với nghĩa tương đương tiếng Việt là “ chim” – cũng là tên gọi chung của loài, đây là hiện tượng mở rộng nghĩa của từ do thay đổi mục đích sử dụng từ ngữ. Do mục đích sử dụng từ thay đổi theo thời gian mà nghĩa từ cũng thay đổi theo, những từ ngữ từ trường nghĩa này có thể chuyển sang trường nghĩa khác.
Ví dụ: từ” nice” thời xưa được dùng tương đương với nghĩa tiếng Việt là “ ngu” , cùng trường nghĩa với “ stupid” nhưng ngày nay từ “nice” được dùng với nghĩa tương đương tiếng Việt là “tốt”- cùng trường nghĩa với “ good”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5) Tính giao thoa: tính giao thoa trong trường nghĩa có hai phương diện. Một là, đối với các từ khác nhau Ví dụ: chân -> chân bóng cừ khôi # chân một từ một nghĩa cấu thành trường bàn nghĩa khác nhau. Hai là, đối với các từ khác nhau Ví dụ: đi một từ đa nghĩa cấu thành trường - Anh ấy đi rồi nghĩa khác nhau.
- Cậu đi nhanh như thế làm gì? 6) Tính tương đối: tính tương đối của trường nghĩa có hai nghĩa, một là quan hệ của các từ nghĩa trên dưới không tuyết đối, nhưng tương đối. 鸟 雀 鹉 鸡 Hai là khi miêu tả sự vật khác nhau trong trường nghĩa, dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau. Ví dụ trường nghĩa chỉ động vât họ “mèo” , có “báo gấm” to hơn “ linh miêu”, “linh miêu” to hơn hẳn „mèo nhà” về kích thước và các đặc tính săn mồi. 7) Tính mơ hồ: do các khái niệm không rõ đối với những sự vật trên thế giới khách quan.
Ví dụ: “xe đạp” vừa có thể thuộc trường nghĩa chỉ phương tiện giao thông vừa có thể thuộc trường nghĩa công cụ thể thao. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2Một số vấn đề về định danh 1.1 Khái niệm định danh.Consanski cho rằng, định danh là “ sự cố định (hay gán) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm- biểu niệm (sigsificat)phản ánh cái đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – gồm các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của đối tượng cũng như quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạp thành nhứng yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ”. Trong thực tế, con người có thể chỉ cần miêu tả sự vật hiện tượng mà không cần dùng đến chức năng định danh của ngôn ngữ nhưng định danh là một nhu cầu của ngôn ngữ đúng hơn là nhu cầu của con người trước thế giới khách quan. Định danh là để thể hiện tư duy của con người đồng thời giúp ích cho tư duy của con người.( Dẫn theo Hồ Lê, cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, 2003) Một chức năng của định danh là gọi tên.
Tên gọi là sản phẩm của tư duy con người, nhìn chung nó phải đảm bảo các yêu cầu như có tính khái quát, tính trừu tượng và mất khả năng gợi đến những đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng. Về mặt ngữ nghĩa, nó phải tách với dấu vết của giai đoạn cảm tính và có tác dụng phân biệt các loại nhỏ trong cùng một loại lớn. Việc gọi tên để tạo ra các từ (định danh sự vật) gồm ba yếu tố gắn kết với nhau như sau: “một dãy âm tố có liên kết với nhau, tạo thành từ với mặt bên ngoài của nó, tức là vỏ âm thanh, vỏ ngữ âm của từ, hoặc là từ ngữ âm; thứ hai, sự vật được gọi bằng từ đó; thứ ba, ý nghĩa mà từ đó gây ra trong ý thức chúng ta”( Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB khoa học xã hội, 2017 ) Con người tạo ra ngôn ngữ bằng cách tri giác, phân cắt hiên thực khách quan, gọi tên hiện thực để tạo ra các đơn vị từ vựng và ghép những tên gọi ấy lại để tạo ra từ tổ và câu. Cơ chế để tạo ra các đơn vị từ vựng là cơ chế định danh mà cơ chế này là nôi dung quan trọng của cấu tạo từ, bao gồm các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương thức định danh hiện thực bằng từ đơn, từ láy, từ phái sinh và từ ghép.
Còn cơ chế tạo ra từ tổ và câu là cơ chế tổ hợp cú pháp. Ngoài ra, định danh là “ sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” ( Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, 2002 ). Muốn định danh một khách thể mới, người ta sử dụng những yếu tố ở bình diện cái biểu hiện và ở bình diện cái được biểu hiện đã có trong ngôn ngữ, tức là sử dụng những cái đã biết để biểu hiện một cái mới xuất hiện; hoặc bằng cách tổ chức lại các đơn vị có sẵn, những yếu tố đã có sẵn theo mô hình nhất định. Một nhà ngôn ngữ học người Nga đã nêu ra bảy phương thức định danh như sau: sử dụng tổ hợp âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng, mô phỏng âm thanh (tức tượng thanh), phái sinh, ghép từ, cấu tạo các biểu ngữ đặc ngữ, sao phỏng, vay mượn.
Đó là những phương thức định danh trực tiếp. Ngoài ra, phương thức định danh còn được quy định bởi loại hình ngôn ngữ. Trong cuốn Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy( Nxb từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010 ) tác giả Nguyễn Đức Tồn đưa ra một số phương thức định danh phổ biến trong tiếng Việt , đó là cách chuyển nghĩa ( ẩn dụ, hoán dụ. Ví dụ: “ thị Nở” trong tiếng Việt là để miêu tả người phụ nữ xấu về ngoại hình, “ dế” còn được các bạn trẻ dùng để chỉ chiếc điện thoại di động cá nhân.
Đây được gọi là phương thức định danh thứ cấp (hay gián tiếp). Thực chất, phương thức định danh gián tiếp này gắn bó chặt chẽ với sự chuyển nghĩa của từ. Sự khác nhau giữa định danh trực tiếp và định danh gián tiếp chỉ là quan điểm xem xét, hay từ góc độ nghiên cứu.2 Cơ sở định danh Có hai dạng: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dạng một là võ đoán (dạng không có lý do), trong lĩnh vực từ thường dùng từ đơn là định danh sơ cấp, vì từ đơn là cơ sở của ngôn ngữ.