Chương 1: Luận văn đề cập tới quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thời kỳ trước năm 1993 và yếu tố văn hóa trong mối quan hệ bang giao hai nước. Chương 2: Chương này phân tích những nhân tố quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI tác động tới chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và Nhà nước Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay. Chương này cũng hệ thống n hững chính sách của của Đảng về ngoại giao văn hóa nói chung và quan hệ văn hóa với Nhật Bản nói riêng, đồ ng thời phân tić h những thành tựu đạt được trong quá trình triển khai quan hệ văn hóa với Nhật Bản. Chương 3: Luận văn đánh giá những hạn chế trong quá trình mở rộng quan hệ văn hóa với Nhật Bản, từ đó, rút ra những kinh nghiệm và nêu lên một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong thời gian tới.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRƢỚC NĂM 1993 1. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trƣớc năm 1993 1. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trước năm 1973 Việt Nam và Nhật Bản là hai nước có quan hệ kinh tế, văn hóa từ lâu đời, có nhiều điểm tương đồng về truyền thống, đặc biệt là truyền thống văn hóa Á đông. Trong lịch sử, quan hệ hai nước đã trải qua nhiều biến động thăng trầm, tuy nhiên mối quan hệ đó chưa bao giờ bị gián đoạn hoàn toàn.
Vào nửa cuối thế kỷ XIII, cả hai dân tộc Việt - Nhật đều đã từng bị Đế quốc Mông Nguyên xâm lược và chúng đã bị đánh bại 3 lần xâm lược Đại Việt vào các năm 1258, 1285, 1286, và bị đánh bại hai lần ở Nhật Bản vào các năm 1274 và 1281[37, tr. Trong một chừng mực nhất định, có thể coi quan hệ Nhật - Việt bắt đầu từ thế kỷ thứ XV [66, tr.70] được đánh dấu bằng việc buôn bán giữa hai nước thông qua những thuyền buôn đến từ Nhật Bản. Tuy nhiên, sự có mặt của người Nhật ở Việt Nam và người Việt ở Nhật Bản thì sớm hơn rất nhiều. Được biết, người Nhật Bản đầu tiên có mặt ở Việt Nam là ông Nakamaro Abe - một người đã sang học tập tại Trung Quốc đời Đường [65, tr.
Sau khi đã thành tài, ông trở về Nhật Bản. Trên đường hồi hương, thuyền của ông đã bị dạt vào An Nam (Việt Nam thời bấy giờ). Ông đã quyết định không trở về Nhật Bản nữa mà trở lại kinh đô Tràng An của Trung Quốc. Năm 753, ông được Triều đình Trung Quốc cử sang Việt Nam làm Tiết độ sứ và đã có công trong việc hòa giải những tranh chấp giữa các dân tộc thiểu số ở vùng biên giới với Vân Nam.
Một sự trùng hợp kỳ diệu là cũng ngay trong thế kỷ này, một người Việt Nam đầu tiên đã có mặt tại Nhật Bản, đó là một vị cao tăng đến dự lễ khánh thành bức tượng Phật tại chùa Todaiji của cố đô Nara vào năm 752. Còn được biết, vị cao tăng này đã trình 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tấu một bản nhã nhạc mà ngày nay vẫn còn được trân trọng lưu giữ bảo tồn trong Hoàng gia Nhật Bản [70, tr. Thật đáng trân trọng khi những biểu hiện đầu tiên của sự giao lưu giữa hai dân tộc là những giao lưu văn hóa chứ không phải là những cuộc giáp chiến binh đao. Tuy nhiên, từ thế kỷ thứ XV, mối quan hệ hai nước Việt Nam và Nhật Bản được thấy rõ với những tiếp xúc thương mại và văn hóa có quy mô đáng kể.
Giai đoạn này kéo dài đến năm 1635, đây là khoảng thời gian Chính phủ Nhật Bản thúc đẩy buôn bán với nước ngoài, nhất là với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam trở thành một trong những bạn hàng lớn của Nhật Bản lúc bấy giờ và thuyền buôn của Nhật Bản đã đến nhiều địa điểm, nhất là những vùng ven biển khắp từ bắc chí nam. Kết quả của quá trình tiếp xúc đó đã hình thành nên những trung tâm buôn bán sầm uất như Hội An ở Đàng Trong và Phố Hiến ở Đàng Ngoài. Trong giai đoạn lịch sử này, quan hệ bang giao Việt Nam - Nhật Bản tập trung nhiều đến khía cạnh giao lưu kinh tế, song rõ ràng về phương diện văn hóa, Nhật Bản đã để lại những dấu ấn nhất định mà biểu hiện là những công trình kiến trúc, đồ gốm sứ và nhiều giá trị văn hóa khác vẫn còn được bảo tồn đến tận ngày nay.
Phố cổ Hội An ngay nay vẫn để lại nhiều dấu ấn đậm nét minh chứng cho mối quan hệ Việt Nam với Nhật Bản lúc bấy giờ. Ogura Sadao ước tính số người Nhật Bản ở Hội An lúc bấy giờ có khoảng 1000 người [30, tr. Do số người Nhật cư trú khá đông đã hình thành nên “phố Nhật Bản”, “cầu Nhật Bản” với những ngôi nhà có kiểu dáng kiến trúc giống ở Nhật Bản. Do những nguyên nhân, điều kiện lịch sử nhất định, nên nước Nhật kể từ năm 1635 với việc thi hành chính sách “đóng cửa”, “bế quan tỏa cảng” đã khiến cho giao lưu kinh tế, văn hóa hai nước Việt Nam - Nhật Bản bị gián đoạn từ đó cho đến cuối thế kỷ thứ XIX.
Sang thế kỷ thứ XX quan hệ Việt - Nhật được tiếp nối trở lại nhưng ở thời kỳ này đã mang đậm màu sắc chính trị. Đó là thời kỳ nước Nhật đã trở thành cường quốc TBCN…dấy lên một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phong trào Đông Du đề cao Nhật, học tập Nhật đối với người Việt Nam do nhà ái quốc Phan Bội Châu khởi xướng. Đối với họ, Nhật Bản là dân tộc cũng có điều kiện giống với Việt Nam nhưng do tiến hành duy tân khai hóa, tiếp nhận văn minh kỹ thuật Âu - Mỹ nên đã chẳng những không bị nạn ngoại xâm phương Tây mà còn trở thành một quốc gia hùng mạnh đánh bại cả đế quốc Nga "da trắng”. Nhiều người nuôi niềm hy vọng có thể dựa vào Nhật như dựa vào vị cứu tinh của các dân tộc "da vàng" để đánh đuổi thực dân Pháp.
Họ cho rằng, Nhật Bản là một nước “đồng văn, đồng chủng, đồng châu”, là “anh cả da vàng” và dự định “cầu viện” ở Chính phủ Nhật Bản “binh lính, vũ khí và tiền bạc” để đánh Pháp. Tuy nhiên, điều mà họ nhận thức được đầu tiên khi đến Nhật Bản lại là thấy được tầm quan trọng của vấn đề nâng cao dân trí đối với việc giải phóng dân tộc. Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng và lãnh đạo đã diễn ra từ năm 1905 đã đưa nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản để học tập. Đông Du của cụ Phan đã có sức ảnh hưởng mạnh mẽ với phong trào yêu nước lúc bấy giờ.
Vào thời điểm cuối năm 1908, số lượng học sinh Việt Nam ở Nhật Bản đã lên đến gần 200 người [41, tr. Thông qua việc “khảo sát thăm các học đường và khảo sát các công việc chính trị giáo dục của Nhật Bản” mà nhà cách mạng Phan Bội Châu thực hiê ̣n, phong trào đã cho thấ y tầm quan trọng của vấn đề mở mang dân trí đối với việc chấn hưng đất nước. Học tập Nhật Bản, mô ̣t số phu yêu nước đã mô phỏng Nhật Bản để mở Đông Kinh Nghĩa Thục ở Việt Nam. Thông qua Đông Kinh Nghĩa Thục, hình ảnh một nước Nhật Bản, văn hóa Nhật Bản đã một lần nữa có dịp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầng lớp thanh niên yêu nước Việt Nam.
Đông Kinh Nghĩa Thục quả là một nhịp cầu văn hóa đầy ấn tượng nối liền hai dân tộc Việt - Nhật trong giai đoạn lịch sử đương thời. Như vậy, có thể coi những năm đầu thế kỷ XX quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã mang đậm màu sắc chính trị. Tuy nhiên, đến năm 1909, phong trào Đông Du bị chấm dứt. Chính phủ Nhật Bản đã gây áp lực với cụ Phan 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bội Châu và các học sinh Việt Nam, buộc họ phải rời Nhật Bản.
Những năm sau đó quan hệ giữa hai nước trở nên rất mờ nhạt biểu hiện trên lĩnh vực thương mại với lượng kim ngạch ít ỏi, cho dù Chính phủ Nhật Bản có mở tòa lãnh sự tại Hải Phòng năm 1920 và tại Sài gòn vào năm 1921. Trong những năm Thế chiến thứ hai, phát xít Nhật đã xâm lược Việt Nam. Đây là trang đen tố i nhấ t trong lich ̣ sử quan hệ Việt Nam - Nhật Bản.Trong những năm chiế m đóng tại Việt Nam, chính quyền phát xít Nhật cũng đã thực hiện chính sách truyền bá văn hóa Nhật Bản. Tại Hà Nội, Sài Gòn và các đô thị lớn, người ta bắt đầu được nghe các từ như “võ sỹ đạo”, “trà đạo”, “nghệ thuật cắm hoa” [40].
Chính quyền thống trị Nhật Bản còn tài trợ cho nhiều tờ báo như Đông Dương tạp chí, Tạp chí Tây Á, cùng với việc lôi kéo những nhân sỹ người Việt cô ̣ng tác với bọn phát xít quân phiệt. Bằng những việc làm như vậy bên cạnh những kết quả tuyên truyền có tính nô dịch, văn hóa Nhật Bản cũng đã hiện diện tại Việt Nam ở một mức độ nhất định. Đáng chú ý là trong giai đoạn này đã có một số thanh niên Việt Nam (khoảng 20 người) được đưa sang Nhật để du học. Ngược lại cũng có một số thanh niên Nhật Bản được đưa sang học tiếng Việt tại Việt Nam [65, tr.
Có thể nói, việc giao lưu học tập này là để phục vụ mục đích thống trị lâu dài của chính quyền quân Phiệt Nhật Bản ở Việt Nam và Đông Dương nói chung. Tuy nhiên, tháng Tám năm 1945, phát xít Nhật đã bại trận phải tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện. Tại Việt Nam, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công đã đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đem lại chính quyền về tay nhân dân lao động. Nhiều trí thức Việt Nam - sản phẩm của quá trình đào tạo trong giai đoạn Nhật chiếm đóng đã trở thành những người có cống hiến to lớn cho sự nghiệp khôi phục và xây dựng kinh tế và văn hóa của đất nước, đóng góp rất tích cực cho việc hàn gắn, phát triển nhịp cầu hữu nghị giữa hai dân tộc trong thời kỳ sau đó như Tiến sỹ Lương Đình Của, Bác sỹ Đặng Văn Ngữ, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.