Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hải Dương đã có những bước chuyển biến rõ rệt. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng sản phẩm GDP của tỉnh giảm từ 30,0% năm 2003 xuống còn 25,2% năm 2007. Tuy nhiên, giá trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá so sánh vẫn tăng 1,12 lần, từ 3.252 tỷ đồng lên 3.624 tỷ đồng trong cùng giai đoạn, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 5,53%. Mặc dù năng suất và giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp tăng từ 31,6 triệu đồng lên 48,8 triệu đồng, nền sản xuất nông nghiệp địa phương vẫn đối mặt với thách thức lớn về tính manh mún, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều và khả năng tiếp cận thị trường hạn chế.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự thất bại của cách tiếp cận chuyển giao công nghệ truyền thống theo mô hình công nghệ đẩy. Điển hình như thất bại của dự án trồng hoa hồng tại huyện Gia Lộc năm 2005, người nông dân tiếp thu và làm chủ được quy trình kỹ thuật nhưng sản phẩm làm ra không tiêu thụ được do tách rời nhu cầu thực tế của thị trường. Nhằm giải quyết điểm nghẽn này, luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế chuyển dịch sang mô hình thị trường kéo, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm thống nhất giữa giải pháp công nghệ và thị trường tiêu thụ.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là phân tích thực trạng các kênh chuyển giao kỹ thuật và công nghệ tại Hải Dương giai đoạn 2003-2007, nhận diện những rào cản chính sách kìm hãm doanh nghiệp tham gia, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách khả thi nhằm khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ cho nông dân giai đoạn 2008-2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý công nghệ hiện đại, kết hợp mô hình phân tích 4 thành phần công nghệ của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) và Nawar Sharif (1986), bao gồm: phần kỹ thuật (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin (Inforware) và phần thiết chế tổ chức (Orgaware). Sự đồng bộ của 4 yếu tố này quyết định năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của người nông dân.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đối chiếu sâu sắc giữa mô hình công nghệ đẩy (Technology push) và mô hình thị trường kéo (Market pull). Trong bối cảnh kinh tế thị trường, mô hình thị trường kéo bắt đầu từ tín hiệu nhu cầu thị trường, định hướng đổi mới công nghệ chế biến, kỹ thuật canh tác và lựa chọn giống, bảo đảm đầu ra bền vững cho nông sản.

Khung pháp lý của nghiên cứu dựa trên Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 và Nghị định 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học công nghệ. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: chuyển giao công nghệ theo chiều dọc (từ viện nghiên cứu đến hộ sản xuất) và chiều ngang (giữa các cơ sở sản xuất); các cấp độ chuyển giao từ chuyển giao kiến thức, chìa khóa trao tay (Turn-key), sản phẩm trao tay (Produit en main) đến thị trường trao tay (Marché en main); cùng cơ chế chuyển nhượng quyền sử dụng qua hợp đồng License (độc quyền, không độc quyền, sơ cấp và thứ cấp) với phương thức thanh toán theo kỳ vụ (Royalty) hoặc trọn gói.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2003-2007, các báo cáo tổng kết của Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương, cùng các văn bản chính sách liên quan. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa, phiếu điều tra và phỏng vấn sâu.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 50 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và kinh doanh nông sản trên địa bàn 12 huyện, thị xã của tỉnh Hải Dương. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 30 chuyên gia quản lý khoa học, cán bộ khuyến nông và điều tra ngẫu nhiên 120 hộ nông dân trực tiếp tham gia các mô hình tiếp nhận công nghệ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện theo từng nhóm đối tượng và tiểu vùng sinh thái nông nghiệp.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích định lượng (thống kê mô tả, phân tích xu hướng) và định tính (phân tích logic hệ thống, đối chiếu chính sách) là nhằm lượng hóa chính xác thực trạng phân bổ nguồn lực, đồng thời lý giải sâu sắc bản chất các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được hoàn thành trong khung thời gian từ tháng 01/2008 đến tháng 10/2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân bổ ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Trong tổng kinh phí 20.552,4 triệu đồng đầu tư cho các đề tài, dự án khoa học công nghệ giai đoạn 2003-2007 tại Hải Dương, khối viện và trung tâm nghiên cứu thực hiện 16 đề tài với 13.050,4 triệu đồng (chiếm 63,50%); các cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội thực hiện 15 đề tài với 7.362,0 triệu đồng (chiếm 35,82%). Trong khi đó, khối doanh nghiệp chỉ chủ trì duy nhất 1 đề tài với kinh phí 140,0 triệu đồng, chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 0,68%.

Thứ hai, tốc độ phát triển kinh tế trang trại và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ nhưng thiếu tính bền vững. Toàn tỉnh có 717 trang trại vào năm 2006, tăng gấp gần 4,2 lần so với con số 171 trang trại năm 2001 (tốc độ tăng trưởng bình quân 36,5%/năm). Doanh thu bán sản phẩm của trang trại tăng gần 15 lần, đạt 176,581 tỷ đồng. Ngành chăn nuôi đạt mức tăng trưởng giá trị sản xuất 9,77%/năm trong giai đoạn 2003-2007 (so với mức 4,5%/năm giai đoạn 1998-2002). Tuy nhiên, chỉ có gần 20% diện tích đất nông nghiệp đạt giá trị sản xuất từ 50 triệu đồng/ha trở lên, phản ánh hiệu quả khai thác tiềm năng đất đai chưa tương xứng.

Thứ ba, nghiên cứu nhận diện và phân tích toàn diện 5 kênh chuyển giao công nghệ hiện hữu tại Hải Dương: kênh khuyến nông nhà nước và tự nguyện; kênh viện nghiên cứu, trường đại học; kênh các chương trình ứng dụng khoa học công nghệ sử dụng ngân sách; kênh dự án phi chính phủ (NGO); và kênh doanh nghiệp. Trong đó, kênh doanh nghiệp là mô hình duy nhất có khả năng tích hợp cấp độ chuyển giao thị trường trao tay, bảo đảm bao tiêu 100% sản phẩm đầu ra nhưng lại nhận được ít sự hỗ trợ chính sách nhất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ ngân sách khoa học công nghệ cho thấy cơ chế quản lý còn mang nặng tính bao cấp, ưu tiên các đơn vị hành chính và viện nghiên cứu công lập. Khi dữ liệu được tổng hợp qua bảng phân bổ dòng vốn và biểu đồ cơ cấu chủ thể chủ trì đề tài, sự tương phản trở nên rất rõ ràng: 99,32% nguồn lực nhà nước tập trung vào khu vực nghiên cứu hàn lâm và quản lý, tạo ra độ trễ lớn khi đưa công nghệ vào thực tiễn sản xuất.

Hệ quả là nhiều đề tài khoa học sau khi nghiệm thu không thể nhân rộng do thiếu sự tham gia của doanh nghiệp từ khâu nghiên cứu đến thương mại hóa. Mô hình chuyển giao qua hệ thống khuyến nông dù có mạng lưới bao phủ 100% số xã nhưng chủ yếu dừng lại ở cấp độ trao kiến thức hoặc chìa khóa trao tay, thiếu sự gắn kết với thị trường tiêu thụ.

So sánh với kinh nghiệm phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Israel và chiến lược đổi mới ngành nông sản của Trung Quốc, việc chuyển dịch sang mô hình thị trường kéo là yêu cầu tất yếu. Doanh nghiệp với lợi ích kinh tế gắn liền trực tiếp với chất lượng và sản lượng nông sản chính là chủ thể tối ưu nhất để thực hiện chuyển giao công nghệ trọn gói cho nông dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ cho nông dân tỉnh Hải Dương:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách ưu đãi tài chính và thuế. Cục Thuế tỉnh Hải Dương và các cơ quan liên quan cần áp dụng chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp ký hợp đồng chuyển giao công nghệ và bao tiêu nông sản cho nông dân tương tự như doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghệ cao. Doanh nghiệp cần được khấu trừ 100% các chi phí hợp lý phục vụ hoạt động đào tạo kỹ thuật, cung ứng giống và tài liệu hướng dẫn cho nông dân khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn 2008-2012.

Thứ hai, thiết lập cơ chế hỗ trợ tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh cần trích lập hạn mức tối thiểu 15-20% tổng nguồn vốn hàng năm để hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ chế biến và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Mục tiêu phấn đấu đạt từ 25 đến 30 doanh nghiệp nông nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi mỗi năm.

Thứ ba, tăng cường năng lực chuyển giao công nghệ nội sinh cho doanh nghiệp. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các trường đại học tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về quản trị công nghệ, đàm phán hợp đồng License và sở hữu trí tuệ cho đội ngũ kỹ thuật viên của doanh nghiệp. Tỉnh cần hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng phòng thử nghiệm hoặc bộ phận R&D tại các doanh nghiệp chế biến nông sản chủ lực giai đoạn 2008-2015.

Thứ tư, tái cơ cấu phương thức phân bổ ngân sách đề tài khoa học công nghệ. Tăng tỷ trọng giao trực tiếp các đề tài, dự án ứng dụng khoa học công nghệ cho doanh nghiệp chủ trì từ mức 0,68% lên tối thiểu 20-30% tổng ngân sách khoa học công nghệ của tỉnh vào năm 2015, đồng thời khuyến khích áp dụng phương thức thanh toán theo kỳ vụ (Royalty) nhằm ràng buộc trách nhiệm lâu dài giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và hộ nông dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các phát hiện của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ và nông nghiệp tại địa phương (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Phát triển nông thôn). Cán bộ quản lý có thể sử dụng các luận cứ thực tiễn để tham mưu chính sách phân bổ ngân sách nghiên cứu, xây dựng tiêu chí giao đề tài khoa học công nghệ và hoạch định chương trình khuyến nông xã hội hóa.

Thứ hai, các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất, chế biến và thương mại nông sản. Doanh nghiệp có thể ứng dụng các khung phân tích về hợp đồng License, các cấp độ chuyển giao công nghệ và cơ chế thanh toán Royalty để thiết lập mô hình liên kết chuỗi vệ tinh hiệu quả với các hộ nông dân và hợp tác xã.

Thứ ba, các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành nông nghiệp và quản lý công nghệ. Các nhà khoa học có thể tham khảo phương pháp tiếp cận mô hình thị trường kéo để định hướng đề tài nghiên cứu sát với nhu cầu thực tế, thúc đẩy quá trình thương mại hóa sáng chế và chuyển đổi mô hình hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP.

Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách công. Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận, bộ công cụ khảo sát thực chứng và hệ thống dữ liệu chi tiết về thực trạng chuyển giao công nghệ cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến mô hình chuyển giao công nghệ truyền thống kém hiệu quả tại nông thôn là gì? Mô hình truyền thống vận hành theo cơ chế công nghệ đẩy và cấp phát hành chính, chỉ chú trọng vào kỹ thuật canh tác mà bỏ quên nhu cầu thị trường. Điển hình như thất bại của dự án hoa hồng Gia Lộc năm 2005, nông dân làm chủ kỹ thuật nhưng không có kênh tiêu thụ, dẫn đến tổn thất kinh tế và lãng phí nguồn lực.

Tại sao doanh nghiệp là chủ thể tối ưu nhất trong chuyển giao công nghệ cho nông dân? Doanh nghiệp nắm bắt chính xác tín hiệu thị trường, có năng lực tài chính ứng trước công nghệ và hệ thống tiêu thụ sản phẩm. Khi chuyển giao công nghệ ở cấp độ thị trường trao tay, lợi ích của doanh nghiệp gắn liền chặt chẽ với năng suất và chất lượng sản phẩm của người nông dân.

Thực trạng phân bổ ngân sách khoa học công nghệ tại Hải Dương giai đoạn 2003-2007 có điểm gì bất cập? Trong tổng số 20.552,4 triệu đồng ngân sách thực hiện 32 nhiệm vụ khoa học công nghệ, các viện nghiên cứu và cơ quan quản lý chiếm tới 99,32% nguồn kinh phí, trong khi khối doanh nghiệp chỉ chủ trì đúng 1 đề tài với 140,0 triệu đồng, chiếm vỏn vẹn 0,68%.

Phương thức thanh toán theo kỳ vụ (Royalty) mang lại lợi ích gì trong chuyển giao công nghệ nông nghiệp? Khác với thanh toán trọn gói tiềm ẩn rủi ro cao, thanh toán theo kỳ vụ trích một tỷ lệ phần trăm nhất định trên doanh thu hoặc lợi nhuận bán sản phẩm hàng năm. Cơ chế này buộc bên chuyển giao phải có trách nhiệm đồng hành, hỗ trợ kỹ thuật liên tục và chia sẻ rủi ro kinh tế với nông dân.

Doanh nghiệp khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp cần đáp ứng điều kiện doanh thu nào để hưởng ưu đãi thuế? Theo quy định pháp luật, doanh nghiệp khoa học công nghệ được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp khi tỷ trọng doanh thu từ sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học công nghệ đạt tối thiểu 30% trong năm thứ nhất, 50% trong năm thứ hai và từ 70% trở lên từ năm thứ ba.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định chuyển đổi từ mô hình công nghệ đẩy sang mô hình thị trường kéo với doanh nghiệp làm hạt nhân là hướng đi tất yếu cho nông nghiệp Hải Dương.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất giai đoạn 2003-2007 là sự thiếu hụt chính sách khuyến khích khi doanh nghiệp chỉ nhận được 0,68% tổng kinh phí nghiên cứu khoa học của tỉnh.
  • Đánh giá toàn diện 5 kênh chuyển giao công nghệ, khẳng định tính ưu việt vượt trội của cấp độ chuyển giao thị trường trao tay do doanh nghiệp thực hiện.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ về ưu đãi thuế, hạn mức tín dụng 15-20% từ quỹ khoa học công nghệ và tái phân bổ tối thiểu 20-30% ngân sách đề tài cho doanh nghiệp.
  • Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc phục vụ định hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và tái cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Hải Dương tầm nhìn đến năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2008 đến 2015, các cơ quan quản lý địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các chính sách ưu đãi tài chính và hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng chuyển giao công nghệ. Độc giả và các nhà quản lý quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng các mô hình liên kết và giải pháp chính sách vào thực tiễn quản lý khoa học công nghệ địa phương.