phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về công nghệ và chuyển giao công nghệ - Chƣơng 2. Thực trạng chuyển giao công nghệ cho nông dân trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2003 – 2007 - Chƣơng 3. Các giải pháp khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ cho nông dân tỉnh Hải Dƣơng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm công nghệ Thuật ngữ công nghệ đƣợc hình thành từ khá lâu và đƣợc sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ. Có thể nêu ra một số khái niệm điển hình sau đây. - Theo quan niệm cổ điển nhất, công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất và/hoặc thông tin.Jones, năm 1970 cho rằng, Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực đƣợc chuyển thành hàng hoá.Root, Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đƣợc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới.Baranson, năm 1976 đƣa ra: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình và/hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.Dunning, năm 1982, Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức đƣợc áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trƣờng cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới.Strunk, năm 1986 cho rằng, Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phƣơng pháp.
Công nghệ là kiến thức có sẵn trong óc con ngƣời, không phải là hàng hoá. - Theo Nawar Sharif, năm 1986 đã đƣa ra một định nghĩa khá khái quát về công nghệ. Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/ hoặc thông tin, về phƣơng tiện và phƣơng pháp chế biến vật chất và/ hoặc thông tin. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con ngƣời và phần thiết chế tổ chức.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á- Thái Bình Dƣơng (APCTT). - Ông Graham, năm 1988 đƣa ra định nghĩa: Công nghệ là kiến thức không sờ mó đƣợc và không phân chia đƣợc, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ. Một số tổ chức quốc tế đã đƣa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau, có thể điểm qua: - Tổ chức PRODEC năm 1982 cho rằng, Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ. - Trƣớc đó, năm 1972, tổ chức UNCTAD cho rằng, Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất.
Nó đƣợc mua bán trên thị trƣờng nhƣ một hàng hoá. - Ngân hàng thế giới năm 1985 đƣa ra định nghĩa: Công nghệ là phƣơng pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: + Thông tin về phƣơng pháp. + Phƣơng tiện, công cụ sử dụng phƣơng pháp để thực hiện việc chuyển hoá. + Sự hiểu biết phƣơng pháp hoạt động nhƣ thế nào và tại sao? - Tổ chức OECD, gồm các nƣớc phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canađa lại có một định nghĩa chung: Công nghệ đƣợc hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng đƣợc định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con ngƣời thì sẽ đạt đƣợc một kết quả định trƣớc (và đôi khi đƣợc kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định.
- Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) thì Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp. - Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á - Thái bình dƣơng (ESCAP), Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu thành thông tin. Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng kiến thức, thiết bị và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phƣơng pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý. Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả Trần Ngọc Ca, năm 1987 đã đƣa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ nhƣ sau: Công nghệ có thể đƣợc hiểu nhƣ mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phƣơng pháp (gọi là phần mềm) đƣợc lƣu giữ dƣới các dạng khác nhau (con ngƣời, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) đƣợc áp dụng vào môi trƣờng thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ.
- Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đƣa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. - Theo Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Tác giả luận văn cơ bản tuân theo khái niệm pháp lý này. Đặc điểm của công nghệ Bất kỳ một công nghệ nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản là: - Công nghệ trƣớc hết là khoa học “Làm”, tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiểu”.1 - Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm.
- Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm. Nó tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời - Tăng trƣởng - Thịnh vƣợng - Bão hoà - Tiêu vong. - Sản phẩm của công nghệ đƣợc xác định trƣớc theo thiết kế. - Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình đã đƣợc nhà chế tạo chuẩn hoá và đƣợc ngƣời sản xuất làm chủ.
1 Vũ Cao Đàm, Bài giảng Khoa học luận và Công nghệ luận, 2005. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trình độ công nghệ Trình độ công nghệ là hàm lƣợng khoa học trong sản phẩm hoặc dịch vụ. Trình độ công nghệ cao hay thấp thể hiện ở những điểm sau: - Tiêu hao năng lƣợng trên một đơn vị sản phẩm tiến tới 0.
- Thể tích, dung tích, diện tích của sản phẩm tiến tới 0 (càng nhỏ càng tốt) - Giá thành trên một đơn vị diện tích của sản phẩm tiến tới cực đại. - Công suất tính trên một đơn vị diện tích tiến tới cực đại (càng lớn càng tốt). - Hiệu suất tiến tới cực trị bằng 1. Trình độ công nghệ sản xuất của một doanh nghiệp công nghiệp đƣợc thể hiện ở hai nhóm chỉ tiêu cơ bản là trình độ sản phẩm và trình độ thiết bị công nghệ sản xuất.2 Liên quan đển trình độ công nghệ, Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 đƣa ra một số khái niệm: - Công nghệ cao là công nghệ có hàm lƣợng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có chất lƣợng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
- Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên đƣợc tạo ra tại Việt Nam. - Công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có. - Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ công nghệ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trƣờng của công nghệ. Năng lực công nghệ Năng lực công nghệ là sức tồn tại, phát triển và thể hiện tác động thực hiện chức năng của công nghệ.
Năng lực công nghệ nói lên khả năng mạnh yếu của công nghệ, có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với trình độ công nghệ. 2 Vũ Cao Đàm, sđd 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên tầm vĩ mô, năng lực công nghệ bao gồm các yếu tố cấu thành: - Năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D), bao gồm: năng lực nghiên cứu vận hành, năng lực làm chủ, sao chép, cải tiến, đổi mới công nghệ và năng lực sáng tạo. - Hạ tầng thông tin, bao gồm năng lực dự trữ, cập nhật thông tin, các hoạt động dịch vụ, trang thiết bị và tổ chức mạng thông tin. - Hạ tầng công nghiệp, thể hiện ở năng lực gia công, chế tạo.
- Năng lực dịch vụ kỹ thuật, bao hàm khả năng phân tích, kiểm tra, sửa chữa, duy tu, bảo dƣỡng công nghệ. Đánh giá năng lực công nghệ của một ngành, một doanh nghiệp, trƣớc hết phải đánh giá các yếu tố của công nghệ gồm: nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực và ý tƣởng; đồng thời đánh giá năng lực phát triển của từng yếu tố và sự liên kết giữa các yếu tố đó. Theo Tiến sĩ Trần Ngọc Ca, năng lực công nghệ của doanh nghiệp bao gồm: năng lực đầu tƣ, năng lực sản xuất, năng lực cải tiến nhỏ, năng lực Marketing, năng lực liên kết, năng lực đổi mới lớn và thiết kế. Chuyển giao công nghệ 1.
Khái niệm chuyển giao công nghệ Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ. Tuỳ theo bản chất, mục đích và đối tƣợng của việc chuyển giao mà có cách hiểu khác nhau về CGCN. Một khái niệm tƣơng đối hợp lý, đƣợc tác giả Trần Ngọc Ca đƣa ra năm 1988: “CGCN là một quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác. Như vậy CGCN bao hàm cả chuyển giao mất tiền (mua - bán) và chuyển giao không mất tiền”.