Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT CHÈ QUY MÔ NÔNG HỘ 1. Cơ sở lý luận về ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất chè quy mô nông hộ 1. Một số khái niệm trong phạm vi nghiên cứu Khoa học: Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2013), “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”. Theo Viện Kinh tế nông nghiệp (1995), “Khoa học là sự tìm kiếm các quy luật khách quan chi phối các hiện tượng tự nhiên, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâm nào về các áp dụng kinh tế khả dĩ, khoa học chỉ đơn giản là sự theo đuổi chân lý”.
Như vậy, khoa học tập trung vào kiến thức, lý giải nguyên nhân sản sinh ra kiến thức. Mục đích của khoa học là phát triển tối ưu các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động khoa học được đánh giá theo giá trị khám phá, theo giá trị nhận thức, quy luật tự nhiên. Công nghệ: Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2013), “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
Trong nông nghiệp những kỹ thuật tiến bộ thể hiện rõ nhất là giống cây trồng năng suất cao, giống gia súc đã được cải tạo… nhưng công nghệ thể hiện ở khâu vốn đầu tư nghĩa là máy móc, hệ thống tưới tiêu. Tiến bộ công nghệ đã trở thành quy luật trong trồng trọt, chăn nuôi và trình độ quản lý của người nông dân. Các nhà kinh tế cho rằng công nghệ là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra bằng vật chất nhất định. Đổi mới công nghệ c 6 là cải tiến trình độ kiến thức sao cho nâng cao được năng lực sản xuất để có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn với số lượng đầu vào như cũ hoặc tạo ra sản lượng như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn.
Nhiều đổi mới công nghệ trong nông nghiệp còn nhằm để tiết kiệm lao động (do sử dụng máy móc) hoặc tiết kiệm chi phí. Phần lớn tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất đều tạo ra khả năng đạt được mục tiêu kinh tế do xã hội đặt ra như năng suất cao hơn, chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn và tăng thu nhập cho người sản xuất, đồng thời cũng tạo ra hiệu quả xã hội khác như cải thiện điều kiện sống, cải tạo môi sinh, môi trường. Các nguồn kỹ thuật tiến bộ và việc áp dụng nó: Đúc kết từ kinh nghiệm thực tế; Những kết quả nghiên cứu và phát triển qua khảo nghiệm được áp dụng trong sản xuất; Những kết quả nghiên cứu và phát triển bên ngoài đưa vào. Công tác phổ biến áp dụng là đưa sáng kiến cải tiến ra ứng dụng trong sản xuất đại trà, là quá trình tiếp thu từng bước qua nhiều vụ sản xuất liên tục.
Tốc độ phổ biến áp dụng phụ thuộc vào mức độ công nghệ đó có mang tính địa phương rõ rệt hay không, có phù hợp với điều kiện canh tác cụ thể của đa số nông dân hay không, ngoài ra còn các yếu tố như văn hóa, xã hội, thị trường… cũng ảnh hưởng nhiều đến tốc độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nhu cầu phải giải thích những hiện tượng tự nhiên và hoạt động của thế giới xung quanh do con người tạo ra ngày càng tăng lên. Khi cả hai phía khoa học trong tìm hiểu thế giới tự nhiên và công nghệ trong hoạt động thực tiễn đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình, chúng đã cọ sát và tương tác với nhau thường xuyên hơn và đã có những đóng góp, bổ sung cho nhau. Khoa học là hoạt động tìm kiếm, phát hiện, đánh giá mức độ khám phá hay nhận thức các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; tri thức khoa học được phổ biến rộng rãi và có thể trở thành tài sản chung; hoạt động khoa học thường đòi hỏi khoảng thời gian dài.
Công nghệ áp dụng những kết quả tìm c 7 kiếm, phát hiện; đánh giá qua đóng góp giải quyết các mục tiêu; công nghệ là hàng hóa có chủ sở hữu cụ thể; công nghệ có thể lại rất nhanh chóng bị thay thế. Công nghệ đã đóng góp cho sự phát triển của khoa học thông qua: Một là, cung cấp các phương tiện và công cụ tốt hơn cho nghiên cứu khoa học và có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành của các lý thuyết khoa học mới; hai là, bản thân việc sáng tạo ra các phương pháp mới cũng có thể tạo ra những thách thức mới cho các nhà khoa học đi tìm ra các lý thuyết khoa học mới. Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ: Ứng dụng khoa học công nghệ là việc đưa những kiến thức đưa những gì thuộc về bản chất của thông tin và của những nguyên lý đã được con người khám phá ra đưa các phương tiện vật chất các phương pháp các quy tắc, các kỹ năng được con người sử dụng để tác động và đối tượng lao động vào trong sản xuât kinh doanh để tạo ra năng suất sản xuất cao và tăng hiệu quả kinh tế, giảm hoạt động của con người. Ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp là sử dụng các mô hình tiến bộ kỹ thuật, hay bao gồm ứng dụng trên 2/3 gói kỹ thuật, trong đó việc công nhận nông hộ trồng chè nếu có sử dụng giống mới, nhưng phải là giống xác nhận theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thì mới được xem là có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Không ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ (truyền thống): nông hộ trồng chè theo truyền thống là những nông hộ không ứng dụng bất cứ một mô hình nào trong các mô hình được quy định, hay chỉ áp dụng một phần- dưới 1/3 gói kỹ thuật mới, kể cả việc sử dụng giống mới chỉ đổi, hoặc mua của nông hộ khác cũng không được xem là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Mô hình canh tác: liên quan đến hoạt động của nông hộ trên phần đất của gia đình thông qua việc quản lý nhằm sản xuất có hiệu quả kinh tế đối với cây trồng, vật nuôi. Trong Luận văn từ “mô hình canh tác” tập trung vào các mô hình canh tác chè ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và mô hình truyền thống của nông hộ,. c 8 Sản xuất: Là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào và qua quy trình biến đổi để tạo thành các yếu tố đầu ra một sản phẩm và dịch vụ nào đó.
Những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất: Biến đầu vào nhìn chung là các nguồn tự nhiên bên trong, nguồn vật chất, nguồn từ các tổ chức và nguồn nhân lực trong một cộng đồng, và bao gồm cả đầu vào từ bên ngoài được đưa vào một khu vực cụ thể nào đó nhằm đạt được sự phát triển của nông hộ và nông nghiệp nông thôn. Các yếu tố về mặt kỹ thuật như: Phân bón, thuốc hóa học, giống, nước tưới. Các yếu tố về lý sinh: Đất (quy mô nông trại), diện tích trồng chè. Các yếu tố xã hội: nhân khẩu, đổ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, tham gia tổ chức xã hội.
Các yếu tố kinh tế: Thị trường, vốn, lao động. Nông hộ: Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung. Thống kê Liên hiệp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ. Nhóm học giả lý thuyết phát triển cho rằng “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”.
Như vậy, có thể hiểu nông hộ dùng để chỉ chủ gia đình và những thành viên sống trong gia đình; đây vừa là một đơn vị tiêu dùng vừa là đơn vị sản xuất, và là một tổ chức xã hội. Nông hộ thường do một người quản lý là chủ gia đình nhưng đôi khi cũng hoạt động theo tập thể. Những thành viên trong gia đình thường sống trong cùng một nơi và phân chia nhiệm vụ trong hộ. Nguồn lực nông hộ rất đa dạng bao gồm đất đai, lao động, kỹ thuật, tài chính, con người… chúng có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất.
Nếu biết tận dụng mối liên hệ này sẽ giúp nông hộ sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sẵn có, giảm chi phí và tăng hiệu quả trong sản xuất. Nội dung ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất chè của nông hộ Ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất chè là một xu hướng tất yếu nhằm từng bước giảm công lao động, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và thu nhập cho bà con nông dân trồng chè, bao gồm: Ứng dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao; quy trình kỹ thuật thâm canh chè gắn với chứng nhận chè an toàn; ứng dụng dụng biện pháp: quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý dinh dưỡng (INM), quản lý nước tưới (IWM); biện pháp canh tác chè bền vững,. Áp dụng các kỹ thuật trồng, chăm sóc, chế biến, bảo quản chè theo hướng nâng cao chất lượng: tưới nước, thu hái bằng máy, sử dụng máy, công cụ cải tiến trong khâu làm cỏ, bón phân và đốn chè nhằm giảm công lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất. Sử dụng công nghệ trong chế biến chè như: máy sao chè, vò chè; khâu bảo quản, đóng gói sản phẩm như: máy hút chân không, máy ủ hương, máy đóng gói … Áp dụng các mô hình sản xuất chè an toàn (VietGap, UTZ, sản xuất chè hữu cơ,.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè 1. Nhóm nhân tố tự nhiên Trong nhóm nhân tố này thì đất đai là nhân tố quan trọng nhất, nó quyết định chủ yếu tới năng suất cây trồng, các thông số cần quan tâm tới như diện tích đất, chất lượng đất do độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo quyết định.