chương I, điều 4, mục 3 thì “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [7,2]. Các khái niệm trên tuy có khác nhau nhưng đều có những điểm chung cơ bản như sau : - Kế toán quản trị là một phân hệ kế toán cung cấp những thông tin định lượng. - Đối tựơng sử dụng thông tin kế toán quản trị là các cấp độ nhà quản trị doanh nghiệp. - Thông tin kế toán quản trị nhằm đáp ứng nhu cầu cho các chức năng của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Qua đó chúng ta có thể hiểu khái quát về kế toán quản trị một cách tổng quát như sau: Kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, cung cấp thông tin định lượng thông qua các báo cáo nội bộ nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có cơ sở để đưa ra những quyết định liên quan đến việc hoạch định và kiểm soát các hoạt động trong doanh nghiệp của mình.2 Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp Hệ thống thông tin kế toán quản trị là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định, nó giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp có những quyết định tốt hơn và qua đó nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp một cách tốt nhất.Tùy vào chức năng và nhiệm vụ của các nhà quản trị trong doanh nghiệp mà kế toán quản trị sẽ được thiết kế và cung cấp những thông tin phù hợp - Đối với những nhà quản trị cấp cơ sở thì kế toán quản trị cung cấp những thông tin số lượng chi tiết phản ánh quá trình thực hiện nhiệm vụ của họ để từ đó giúp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 họ có thể tự đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chính họ để có thể đưa ra được những cải tiến nhằm đạt được kết quả tốt hơn. - Đối với các nhà quản trị cấp trung gian, kế toán quản trị sẽ cung cấp cả thông tin số lượng lẫn thông tin về chi phí về các nguồn lực đã sử dụng và kết quả đã đạt được nhằm giúp họ có thể ra những quyết định có tính chiến thuật về sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, giám sát việc sử dụng và việc phân bổ các nguồn lực đó sao cho có hiệu quả nhất. - Đối với các nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp, kế toán quản trị sẽ cung cấp những thông tin phản ánh khả năng sinh lời chung của cả doanh nghiệp chẳng hạn như những thông tin về thị phần, về các nguy cơ bị cạnh tranh, sư hài lòng của khách hàng, dịch vụ hậu mãi…cũng như khả năng sinh lời của từng bộ phận trong doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị này có những quyết định mang tính chiến lược nhằm định hướng phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.3 Đặc điểm của thông tin kế toán quản trị trên các báo cáo kế toán quản trị Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là lợi nhuận và mục tiêu cuối cùng của quản trị trong các doanh nghiệp là gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các nhà quản trị doanh nghiệp phải luôn đặt ra các mục tiêu, đề ra các phương cách thực hiện mục tiêu, tổ chức thực hiện, chỉ huy và kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của các bộ phận cũng như các cá nhân trong doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đã được đề ra.Trong toàn bộ quá trình trên các nhà quản trị cần rất nhiều thông tin mà những thông tin này không được thể hiện trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Có rất nhiều loại thông tin kế toán quản trị và chúng có thể được phân loại theo ba cách khác nhau: - Căn cứ vào đặc điểm thì thông tin kế toán quản trị được phân loại thành: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 + Thông tin tài chính. + Thông tin phi tài chính. - Căn cứ vào thời gian phát sinh thì thông tin kế toán quản trị được chia thành: + Thông tin quá khứ. + Thông tin hiện tại.
+ Thông tin hướng về tương lai. - Căn cứ vào phạm vi thông tin thì thông tin kế toán quản trị bao gồm: + Thông tin bên trong doanh nghiệp. + Thông tin bên ngoài doanh nghiệp Chúng ta có thể thấy rằng để hoạch định cho ngắn hạn (dự toán) và cả dài hạn (chiến lược) thì các nhà quản trị không chỉ cần những thông tin tài chính, quá khứ, hiện tại, bên trong doanh nghiệp mà còn cần đến nhiều loại thông tin khác như thông tin phi tài chính, thông tin hướng về tương lai cũng như thông tin bên ngoài doanh nghiệp chẳng hạn như những thông tin về thị phần của doanh nghiệp, thông tin về sự hài lòng của khách hàng, thông tin về đối thủ cạnh tranh, thông tin dự báo xu thế phát triển của ngành… Như vậy có thể nói thông tin của kế toán quản trị rất đa dạng và phong phú, phạm vi thông tin rộng vượt ra ngoài phạm vi hệ thống kế toán hiện hữu ở các doanh nghiệp. Phương tiện để cung cấp thông tin kế toán cho quản trị nội bộ chính là các báo cáo kế toán quản trị.Do đó các thông tin của kế toán quản trị trên các báo cáo kế toán quản trị cũng phải mang những đặc điểm và nội dung sẽ khác với kế toán tài chính.2 Phân loại chi phí trên các báo cáo 1.
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong doanh nghiệp thương mại 1.1 Chi phí mua hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Chi phí mua hàng là những chi phí liên quan đến quá trình thu mua hàng hóa như chi phí vận chuyển, bốc dỡ bảo quản hàng hóa từ nơi mua về đến kho của doanh nghiệp; các khoản hao hụt tự nhiên trong định mức phát sinh trong quá trình thu mua hàng hóa; chi phí thuê kho, thuê bến bãi; chi phí bảo hiểm hàng hóa… 1.2 Chi phí bán hàng Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao gồm những chi phí về chào hàng, giới thiệu, quảng cáo sản phẩm; chi phí phải trả cho nhân viên bán hàng;các chi phí liên quan đến việc bảo quản, đóng gói, vận chuyển; chi phí khuyến mãi; chi phí khấu hao các tài sản cố định có liên quan… 1.3 Chi phí quản lý hành chánh Chi phí quản lý hành chính là những chi phí phát sinh trong họat động quản lý chung của doanh nghiệp như chi phí phải trả cho nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (lương, phụ cấp, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…); chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; các khỏan dự phòng nợ phải thu khó đòi; các dịch vụ mua ngoài (như điện, nước, điện thọai, fax, internet, bảo hiểm tài sản, chi phí phòng cháy chữa cháy…) và các dịch vụ bằng tiền khác (như công tác phí, tiếp khách, hội nghị…).2 Phân loại theo dòng vận động của chi phí trong một kỳ hoạt động kinh doanh Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành: 1.1 Chi phí sản phẩm Là những khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm gắn liền với sản phẩm.Chi phí sản phẩm chỉ được thu hồi khi tiêu thụ sản phẩm, khi sản phẩm chưa được tiêu thụ thì chi phí sản phẩm nằm trong kho. Đối với doanh nghiệp thương mại thì chi phí sản phẩm gồm tất cả các khoản chi phí liên quan đến quá trình mua hàng hoá để về bán lại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Chi phí thời kỳ Là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán dù có sản xuất sản phẩm hay mua hàng hoá về để bán lại hay không.Chi phí thời kỳ được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được xếp vào loại chi phí này.3 Phân loại theo cách ứng xử của chi phí: Với cách phân lọai này, chi phí được chia thành 1.1 Biến phí Biến phí hay còn được gọi là chi phí biến đổi là những chi phí mà tổng của nó thay đổi khi hoạt động thay đổi ví dụ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp (trả lương theo sản phẩm)…trong sản xuất hoặc chi phí giá vốn hàng bán trong thương mại.Chi phí này khi tính cho một đơn vị hoạt động thì không đổi.2 Định phí Định phí còn được gọi là chi phí cố định là những chi phí mà tổng của nó không đổi khi hoạt động thay đổi ví dụ như chi phí thuê mặt bằng nhà xưởng, cửa hàng, hoặc chi phí khấu hao tài sản cố định, … Chi phí này khi tính cho một đơn vị hoạt động thì sẽ thay đổi. Trong thời đại hiện nay, định phí có xu hướng tăng hơn so với biến phí do các nguyên nhân: -Trình độ tự động hoá quá trình sản xuất tăng cao trong các doanh nghiệp là cho chí phí đầu tư vào máy móc thiết bị tăng nghĩa là gia tăng định phí.
- Tiền lương và thu nhập của công nhân dần dần đi vào ổn định nên giảm tính biến động của chi phí lao động. Do sự thay đổi này nên các nhà quản trị cần hết sức lưu ý khi lập kế hoạch, tính toán và ra quyết định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Việc phân loại theo cách ứng xử của chi phí nghĩa là khi mức độ hoạt động biến động thì chi phí sẽ biến động như thế nào nhằm mục đích đáp ứng được yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và điều tiết chi phí của nhà quản trị doanh nghiệp 1.3 Chi phí hỗn hợp Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bản thân nó gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí.Ở mức độ hoạt động cơ bản chi phí hỗn hợp thường biểu hiện đặc điểm như là định phí, nhưng khi vượt lên trên mức đó thì lại biểu hiện đặc điểm của biến phí.Những chi phí được xếp vào loại này có thể là chi phí điện thoại, chi phí bảo trì, chi phí sản xuất chung… Phần định phí của chi phí hỗn hợp phản ánh chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì phục vụ và để giữa dịch vụ đó luôn ở tình trạng sẵn sang phục vụ.