Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về vấn đề này, trên cơ sở đó tác giả sẽ thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Tác giả tóm lược các mô hình và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả khái quát các bước xử lý dữ liệu, tiến hành ước lượng và thực hiện kiểm định với phần mềm STATA 11. Chương 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên chi phí đại diện của các CTNY trên TTCK TP. Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu mô hình tổng hợp và bỏ sót biến của doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết nội dung của nghiên cứu, đưa ra kết luận của nghiên cứu đồng thời nêu ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khái quát về cấu trúc vốn Xây dựng cấu trúc vốn tối ưu là vấn đề hàng đầu mà tất cả mọi doanh nghiệp đều hướng tới, một cấu trúc vốn tối ưu là một cấu trúc vốn làm tối thiểu chi phí sử dụng vốn bình quân và tối thiểu hóa rủi ro của doanh nghiệp, từ đó có thể tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Vậy một doanh nghiệp nên vay nợ bao nhiêu để xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu và đồng thời có thể kiểm soát được rủi ro.
Trong đó, chi phí đại diện là công cụ được sử dụng để kiểm soát rủi ro. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng nợ tác động như thế nào đến chi phí đại diện. Trên nền tảng lý thuyết cấu trúc vốn căn bản, tác giả tập trung nghiên cứu ba nhóm lý thuyết chính ảnh hưởng đến xây dựng cấu trúc vốn, bao gồm: Lý thuyết MM về cấu trúc vốn, lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng.1 Lý thuyết MM về cấu trúc vốn MM là tên của hai nhà kinh tế người Mỹ- Merton Miller và Franco. Hai ông đã đạt giải Nobel kinh tế năm 1990 về lý thuyết “Chính sách phân phối, chi phí sử dụng vốn và tài chính doanh nghiệp”.
MM cho rằng : Trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo hàm ý là thị trường không có thuế, không có chi phí giao dịch không có chi phí phát hành, không có sự khác biệt giữa thuế đánh trên cổ tức và thuế đánh trên lãi vốn, Hành vi của các nhà đầu tư là hợp lý tức là các nhà đầu tư thích tối đa hóa giá trị của mình không phân biệt giá trị đó phát sinh từ cổ tức hay lãi trên vốn, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Không có bất cân xứng thông tin, các nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài và bên trong doanh nghiệp nhận được thông tin như nhau, từ đó, họ có thể tính toán được lợi nhuận và dòng tiền thu được trong tương lai của doanh nghiệp. Bằng những lập luận về chi phí cơ hội đối với sự lựa chọn của cổ đông trong doanh nghiệp và phân tích tỷ suất lợi nhuận trên giá trị tài sản, MM cho rằng tác động đòn bẩy làm gia tăng thu nhập trên mỗi cổ phần, nhưng điều này không làm gia tăng giá trị cổ phần. MM dựa trên quy trình mua bán song hành và kết luận rằng giá trị thị trường của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Hay nói cách trong điều kiện thị trường vốn cạnh tranh hoàn hảo không có thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng cấu trúc vốn thâm dụng nợ hay thâm dụng vốn cổ phần đều không ảnh hưởng đến giá trị thị trường của doanh nghiệp, như vậy chi phí đại diện sẽ như nhau nếu có sử dụng nợ hay không sử dụng nợ.
Tuy nhiên, với các bằng chứng thực nghiệm sau này đã bác bỏ một số luận điểm của lý thuyết MM như sau: Trong thực tế, thị trường vốn cạnh tranh không hoàn hảo và giả định không có thuế thu nhập doanh nghiệp là không thực tế. Như vậy khi doanh nghiệp sử dụng tài trợ nợ trong cấu trúc vốn, điều này sẽ tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp. Do đó, MM đã thấy những hạn chế trong lý thuyết của mình và MM đã thừa nhận một phần rằng thị trường vốn là không hoàn hảo với sự hiện diện của thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi sử dụng cấu trúc vốn thâm dụng nợ, trên thực tế không có doanh nghiệp nào có mức độ sử dụng nợ cao cực độ trong cấu trúc vốn, giải thích cho vấn đề này cho thấy ngoài nợ sẽ còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc xác định một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp.
Hai trong những yếu tố quan trọng nhất là chi phí phá sản và việc xác định chi phí đại diện. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi dựa nghiên cứu của Myers (1977) nhằm giải thích tại sao doanh nghiệp lại chọn một cấu trúc vốn một phần là vốn vay một phần là vốn cổ phần. Lý thuyết đánh đổi nói rằng: Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp (làm sụt giảm giá trị của doanh nghiệp). Từ việc tính toán cân bằng giữa lợi ích của tấm chắn thuế và chi phí tăng lên trong việc gia tăng tỉ lệ đòn bẩy mà nhà quản lý hoạch định cấu trúc vốn sẽ đưa ra tỉ lệ nợ mục tiêu riêng của doanh nghiệp mình.
Theo quan điểm của thuyết đánh đổi, một doanh nghiệp sẽ xây dựng cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp mà tại điểm đó hiện giá của tấm chắn thuế từ nợ phải đủ bù trừ cho các chi phí tăng lên từ sử dụng nợ (chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí đại diện). Do đó, các nhà quản trị luôn cân nhắc việc sử dụng nợ để có được một tỉ lệ đòn bẩy nhằm cân bằng giữa lợi ích và chi phí của nợ. Trong đó lợi ích của nợ là lợi ích từ tấm chắn thuế và lãi vay.
Chi phí tiềm tàng của nợ bao gồm cả chi phí phá sản và chi phí đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Lý thuyết trật tự phân hạng Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984). Giả thuyết dựa trên việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp. Nhà quản lý có nhiều thông tin hơn các nhà đầu tư bên ngoài, doanh nghiệp ưu tiên sử dụng các nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn thấp nhất cho đến các nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn cao hơn, tức là sử dụng nguồn vốn phát sinh trong nội bộ từ lợi nhuận giữ lại sau đó mới đến các nguồn vốn huy động từ bên ngoài bằng cách đi vay nợ hoặc phát hành cổ phần thường mới.
Theo nghiên cứu của Fank và Goyal (2007), “Capital Structure Decisions: Which Factors are Reliably Important?” Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn bao gồm các nhóm nhân tố: lợi tức, qui mô công ty, tăng trưởng, ngành, tính chất của tài sản, thuế, rủi ro, điều kiện của thị trường chứng khoán, điều kiện của thị trường nợ và điều kiện kinh tế vĩ mô. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung vào các nhóm nhân tố sau: lợi tức (tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), qui mô công ty (Logarit tự nhiên của doanh thu – LOS), ngành (Đòn bẩy của ngành – DTAR và ngành nghiên cứu – IND). Tác giả kết hợp các lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết đánh đổi để phân tích đối với từng nhóm nhân tố ảnh hưởng nêu trên đến cấu trúc vốn trong nghiên cứu: Đối với nhóm nhân tố lợi tức: Theo lý thuyết trật tự phân hạng, các công ty có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại cao cho thấy sự ổn định trong nguồn vốn huy động từ bên trong nội bộ doanh nghiệp vì chi phí sử dụng vốn thấp, lý thuyết đánh đổi cho rằng những công ty trưởng thành thì sử dụng nợ tương đối thấp, do đó, chi phí đại diện khi sử dụng nợ sẽ thấp hơn chi phí đại diện khi sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại. Đối với những công ty tăng trưởng có xu hướng sử dụng nợ (vốn vay) nhiều hơn để có thể sử dụng hiệu quả lá chắn thuế tuy nhiên sẽ làm gia tăng chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện phát sinh cho nợ sẽ cao hơn khi sử dụng vốn chủ sở hữu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Đối với nhóm nhân tố qui mô công ty: Theo lý thuyết trật tự phân hạng, những công ty lớn và phát triển ổn định thì sẽ tạo được uy tín trên thị trường cho vay vốn, do đó, chi phí đại diện phát sinh trên phần vốn vay nợ sẽ ít hơn. Tuy nhiên theo lý thuyết đánh đổi thì những công ty này có khuynh hướng là giảm nợ trong cấu trúc vốn. Đối với nhóm nhân tố ngành: Cấu trúc vốn sẽ khác nhau giữa các ngành do đặc thù của từng ngành, đặc biệt là tỷ lệ sử dụng nợ trong cấu trúc vốn. Do đó, đòn bẩy trung bình ngành thường được đại diện cho cấu trúc vốn mục tiêu.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới Faccio và Masulis (2005), Hovakimian và cộng sự (2001) cho thấy các công ty có khuynh hướng điều chỉnh cấu trúc vốn của mình về cấu trúc vốn mục tiêu bằng cách điều chỉnh nợ theo hướng trung bình ngành.