Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Giới thiệu các khái niệm liên quan, trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài. Chương này cũng trình bày khái quát về tình hình nghèo và di cư tại Việt Nam. Chương 3: Giới thiệu các chiều và các chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều.
Xây dựng phương pháp, mô hình nghiên cứu. Chương này đồng thời cũng giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến trong nghiên cứu. Chương 4: Mô tả kết quả về tình hình nghèo đa chiều tại khu vực nông thôn, thông kê mô tả các biến, phân tích kết quả hồi quy mô hình. Chương 5: Kết luận, kiến nghị.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. CÁC KHÁI NIỆM - Di cư Di cư được hiểu là sự di chuyển của người từ nơi này đến nơi khác. Theo Giải thích thuật ngữ di cư của Tổ chức di cư quốc tế (International Organization for Migration - IOM), di cư (migration) là sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia. Di cư bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, di cư kinh tế hay vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình.
Các xu hướng chính của di cư bao gồm: nông thôn - nông thôn; nông thôn - thành thị; thành thị - nông thôn; di cư trong nước và di cư ra nước ngoài. Trong phạm vi bài viết tập trung chủ yếu vào hình thức di cư trong nước từ nông thôn ra thành thị. - Người di cư Người di cư: Vẫn chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận chung trên cấp độ quốc tế về người di cư. Thuật ngữ người di cư thường được hiểu bao hàm mọi trường hợp di cư do cá nhân tự quyết định vì lý do “tiện ích cá nhân” mà không có sự can thiệp của các nhân tố bên ngoài.
Theo Liên Hợp Quốc, người di cư là một cá nhân đã cư trú tại một nước hơn một năm, bất kể là di cư hợp pháp hay trái phép hay không, bất kể là di cư tự nguyện hay không. Theo đó, những người đi lại với thời gian ngắn như khách du lịch, thương nhân không được xem là người di cư. - Người di cư ngắn hạn Người di cư ngắn hạn: Một người di chuyển đến một nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất ba tháng nhưng chưa đến một năm, trừ trường hợp di chuyển vì mục đích giải trí, nghỉ lễ, thăm bạn bè, họ hàng, đi công việc hoặc chữa bệnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Người di cư dài hạn Người di cư dài hạn là người chuyển tới một nước không phải nước của họ trong khoảng thời gian ít nhất một năm, do đó nơi đến trở thành nơi cư trú thường xuyên của họ.
Đối với nơi đi, người này là người xuất cư dài hạn và đối với nơi đến, người này là người nhập cư dài hạn. - Nghèo Nghèo là tình trạng bị tướt đoạt ở nhiều khía cạnh khác nhau. Nó thể hiện ở khía cạnh thu nhập thấp, không có khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ cơ bản cần thiết nhằm duy trì việc tồn tại của con người. Nghèo còn được hiểu là thiếu các tiếp cận về y tế và giáo dục, thiếu các điều kiện vệ sinh và nước sạch, không được đảm bảo về an ninh, thiếu tiếng nói, không có đủ khả năng và cơ hội để cải thiện cuộc sống (WB, 2010).
- Ngưỡng nghèo hay mức nghèo Ngưỡng nghèo hay mức nghèo là mức chi tiêu dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để đảm bảo cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các chi tiêu bắt buộc khác. Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi tiêu dùng tối thiểu đó. - Tỷ lệ nghèo Tỷ lệ nghèo (hay chỉ số đếm đầu người) là tỷ lệ dân số có mức sinh hoạt (mức tiêu dùng bình quân đầu người) nằm dưới chuẩn nghèo trong một giai đoạn cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
LƯỢC KHẢO CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Một số lý thuyết về di cư 2. Các quy luật di cư của Ravenstein “Các quy luật của di cư” (Law of Migration) của Ravenstein (1885) chỉ ra rằng di cư là một phần không thể tách rời của sự phát triển. “Các quy luật của di cư” đóng vai trò là nền tảng, mở đường cho việc phát triển các lý thuyết di cư về sau.
Dựa trên quan sát thực nghiệm 20 quốc gia châu Âu, Ravenstein xây dựng mô hình tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa di cư và quy mô dân số, khoảng cách địa lý, dòng di cư và sự khác nhau về khuynh hướng di cư giữa thành thị và nông thôn. Bảy quy luật động thái dân số của Ravenstein bao gồm: + Di cư và khoảng cách: Đa số người di cư với phạm vi ngắn. Khoảng cách càng tăng thì mức hấp dẫn của nơi đến sẽ giảm. Với các trường hợp di cư xa, địa điểm họ thường hướng đến là các thành phố, trung tâm thương mại lớn.
+ Di cư theo các giai đoạn: Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa sẽ tạo ra các dòng di cư hướng đến các các trung tâm công nghiệp và thương mại lớn, nơi có sức hút lớn về việc làm và thu nhập. Cơ chế của quá trình di cư là người di cư sẽ tập trung di chuyển từ nông thôn đến các thành phố phát triển, và người di cư đến từ các vùng xa xôi, hẻo lánh hơn sẽ lấp đầy các khoảng trống dân số ở vùng nông thôn. + Dòng di cư xuôi và ngược: “Mỗi dòng di cư đều tạo ra một dòng di cư ngược lại để bù đắp” + Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn trong xu hướng di cư: Người sinh ra ở các đô thị, thành phố thường ít di cư hơn so với người sinh ra ở nông thôn. + Nữ giới chiếm vượt trội trong số những người di cư khoảng cách ngắn.
Ngược lại, nam giới chiếm ưu thế đối với việc di cư khoảng cách lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Công nghệ và di cư: Sự gia tăng các phương tiện di chuyển và sự phát triển kỹ thuật trong sản xuất và thương mại tác đô ̣ng đế n gia tăng di cư. + Yếu tố kinh tế là động lực chính quyết định thúc đẩy quá trình di cư. Hạn chế của lý thuyết này là chỉ đưa ra bằng chứng thực tại mà không giải thích được tại sao lại có sự tồn tại của mẫu hình này.
Lý thuyết về hai khu vực của Arthus Lewis Arthus Lewis (1954) đưa ra lý thuyết “Mô hình hai khu vực” (Dual Sector) nhằm giải thích sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp ở một số nước vừa mới công nghiệp hóa. Trong mô hình này, tác giả giả định nền kinh tế chỉ tồn tại hai khu vực là khu vực nông thôn truyền thống và khu vực thành thị công nghiệp hiện đại. Đặc trưng của khu vực nông thôn truyền thống là lao động thủ công phổ biến, năng suất biên thấp. Ngược lại, khu vực thành thị công nghiệp hiện đại tập trung nhiều ngành nghề chế biến hiện đại, năng suất cao.
Khu vực thành thị mở rộng bằng cách thu hút lao động từ nông thôn bằng cách trả tiền lương cao hơn để khiến người lao động di cư. Quá trình này sẽ tiến triển cho đến khi hết thặng dư lao động từ khu vực truyền thống, tiền lương tăng và sản phẩm biên ở hai khu vực bằng nhau. Như vậy, lý thuyết của Lewis cũng hàm ý sự chênh lệch mức lương cũng như mức sống cũng là một trong những nguyên nhân của vấn đề di cư. Mô hình Lewis phân tích được sự dịch chuyển nguồn lực cũng như mối quan hệ trong sự phát triển đồng thời của cả hai khu vực là nông thôn và thành thị.
Tuy nhiên, mô hình cũng có những hạn chế sau: (1) Không lý giải được hiện tượng dòng người nhập cư vẫn ồ ạt đổ vào thành phố trong khi tình trạng thất nghiệp đang diễn ra gay gắt tại các nước đang phát triển (Quy luật tiền lương hiệu quả) (2) Lao động không dễ dàng dịch chuyển giữa các khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (3) Tiền lương không phải luôn là cố định. Mô hình kinh tế tân cổ điển Harris- Todaro Mô hình kinh tế tân cổ điển hay còn gọi là mô hình lý thuyết “Kỳ vọng thu nhập” (Expected Income Model) của Harris- Todaro (1969) cũng đưa ra các giả thiết về di cư dựa trên sự mất cân bằng năng suất lao động và mức thu nhập dự kiến của 2 khu vực nông thôn và thành thị. Mô hình tập trung về hành vi của cá nhân với các giả định sau: (1) Quyết định di cư là quyết định duy lý. (2) Quyết định di cư dựa vào sự kỳ vọng hơn là sự khác biệt thu nhập thực tế.
(3) Xác suất tìm được việc tỷ lệ nghịch với thất nghiệp (4) Có sự mất cân bằng giữa thành thị và nông thôn. Mô hình tập trung cho thấy tác động của động cơ kinh tế đến quyết định di cư của một cá nhân. Cá nhân sẽ dựa trên tiền lương để so sánh trong việc lựa chọn địa điểm để di cư. Kỳ vọng về thu nhập (chênh lệch thu nhập) là động lực để đưa ra quyết định di cư.
Kỳ vọng thu nhập càng lớn thì xu hướng di cư càng tăng. Thậm chí, ngay cả khi thu nhập dự kiến ở thành thị thấp hơn thu nhập ở nông thôn nhưng tổng lợi ích kỳ vọng từ việc di cư ra thành thị lớn hơn tổng lợi ích dự kiến nếu tiếp tục ở nông thôn, thì cá nhân đó vẫn quyết định di cư. Mô hình Harris- Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực phi chính thức (Informal Sector), bao gồm các hoạt động không hoàn toàn là bất hợp pháp nhưng đại đa số các hoạt động trong khu vực này không được sự thừa nhận chính thức của xã hội, không đăng ký và được sự quản lý của nhà nước. Kết quả của việc ồ ạt đổ dồn vào đô thị là nhiều người lao động không tìm được việc làm trong khu vực kinh tế chính thức và buộc họ phải chấp nhận làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức như lao động tự do, giúp việc gia đình, thu lượm ve chai, đánh giày, bán hàng rong, v.