Luận văn thạc sĩ UEH: Đổi mới hợp tác giữa nhà cung cấp 3PL và khách hàng

Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa nhà cung cấp dịch vụ logistics và khách hàng, mang lại hiệu quả cao.

Chuyên ngành

Kinh doanh thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Tổng quan các nghiên cứu trước và vấn đề tiếp tục nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa của đề tài

1.7. Kết cấu của luận văn

1.8. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU

2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản

2.1.1. Third Party Logistics (TPL)

2.1.2. Phân loại và nguồn gốc đổi mới của TPLPs

2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới trong Logistics

2.1.4. Quản trị đổi mới ở cấp độ doanh nghiệp của TPLPs

2.1.5. Dự án đổi mới và chìa khóa cho sự hợp tác trong các dự án đổi mới giữa TPLPs và khách hàng

2.2. Khung khái niệm của nghiên cứu

2.2.1. Khung khái niệm về vị trí chiến lược của TPLPs

2.2.2. Khung khái niệm về mối quan hệ giữa TPLPs & khách hàng

2.3. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Cách thức tiếp cận nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Công cụ nghiên cứu và thu thập dữ liệu

3.4. Phát triển khung khái niệm

3.5. Lựa chọn tình huống nghiên cứu

3.6. Tổng quan về các công ty trong các tình huống nghiên cứu

3.7. Phân tích dữ liệu

3.8. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH SỰ ĐỔI MỚI TRONG MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TPLPs VÀ KHÁCH HÀNG

4.1. Những sự kiện đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng được mô tả trong từng tình huống nghiên cứu (Within-Case Analysis)

4.1.1. Tình huống nghiên cứu sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa APL Logistics và khách hàng Nike

4.1.1.1. Nền tảng ban đầu của sự đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa APL Logistics và khách hàng Nike
4.1.1.2. Dự án phát triển hệ thống lập kế hoạch vận chuyển giữa APL Logistics và khách hàng Nike
4.1.1.3. Dự án triển khai công cụ tự động kiểm tra và chấp nhận đóng hàng giữa APL Logistics và khách hàng Nike
4.1.1.4. Dự án xây dựng hệ thống tối ưu hóa kế hoạch vận chuyển giữa APL Logistics và khách hàng Nike
4.1.1.5. Việc duy trì nền tảng đổi mới trong mối quan hệ giữa APL logistics và khách hàng Nike
4.1.1.6. Những nguyên nhân thành công trong các dự án đổi mới giữa APL Logistics và khách hàng Nike

4.1.2. Tình huống nghiên cứu sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TBS Logistics và khách hàng APL Logistics

4.1.2.1. Nền tảng ban đầu của sự đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa TBS Logistics và khách hàng APL Logistics
4.1.2.2. Giai đoạn đầu của dự án đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TBS Logistics và khách hàng APL Logistics
4.1.2.3. Giai đoạn hai của dự án đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TBS Logistics và khách hàng APL Logistics
4.1.2.4. Việc duy trì nền tảng đổi mới trong mối quan hệ giữa TBS Logistics và khách hàng APL Logistics
4.1.2.5. Những nguyên nhân thành công trong dự án đổi mới giữa TBS Logistics và khách hàng APL Logistics

4.1.3. Tình huống nghiên cứu sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa ICD Tân Cảng Sóng Thần và khách hàng APL Logistics

4.1.3.1. Nền tảng ban đầu của sự đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa ICDST và khách hàng APL Logistics
4.1.3.2. Quá trình hợp tác trong dự án đổi mới giữa ICDST và khách hàng APL Logistics
4.1.3.3. Việc duy trì nền tảng đổi mới trong mối quan hệ giữa ICDST và khách hàng APL Logistics
4.1.3.4. Những nguyên nhân dẫn đến sự không thành công của dự án đổi mới giữa ICDST và khách hàng APL Logistics

4.2. Phân tích sự đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa TPLPS và khách hàng trong các tình huống nghiên cứu (Cross-Case Analysis)

4.2.1. Vị trí của TPLPs và mối quan hệ với khách hàng trước khi có dự án đổi mới

4.2.1.1. Vị trí của TPLPs trước khi có dự án đổi mới
4.2.1.2. Mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng trước khi có dự án đổi mới

4.2.2. Nguồn gốc thực hiện đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.2.3. Đầu vào của đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.2.3.1. Vốn đầu tư dành cho đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng
4.2.3.2. Kiến thức dành cho đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng
4.2.3.3. Cơ hội kiểm nghiệm sự đổi mới trong mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng

4.2.4. Đầu ra của đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.2.4.1. Mức độ mới mẻ và loại đổi mới được tạo ra trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng
4.2.4.2. Đòn bẩy phát triển cho TPLPs từ sự đổi mới trong mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng

4.2.5. Lợi ích TPLPs nhận được từ đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.2.5.1. Lợi ích cơ bản TPLPs nhận được từ đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng
4.2.5.2. Lợi ích tăng thêm TPLPs nhận được từ đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.2.6. Vị trí của TPLPs và mối quan hệ với khách hàng sau khi thực hiện dự án đổi mới

4.2.6.1. Vị trí của TPLPs sau khi thực hiện dự án đổi mới
4.2.6.2. Mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng sau khi thực hiện dự án đổi mới

4.3. Những kết quả nghiên cứu rút ra từ việc mô tả và phân tích sự đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.3.1. Những nhân tố ngẫu nhiên tác động đến dự án đổi mới trong quá trình hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

4.3.1.1. Các TPLPs có thể thúc đẩy sự đổi mới bằng các liên kết với khách hàng
4.3.1.2. Sự tin tưởng và cam kết của TPLPs và khách hàng về ba vấn đề vốn, kiến thức và cơ hội thử nghiệm đổi mới đảm bảo cho sự đổi mới được tạo ra
4.3.1.3. Lợi ích chia sẻ nhận được từ dự án đổi mới là động lực thúc đẩy dự án đổi mới giữa TPLPs và khách hàng
4.3.1.4. Dịch vụ mới được tạo ra và đòn bẩy cho việc áp dụng kết quả đổi mới cho các khách hàng khác là động lực giúp TPLPs thực hiện đổi mới
4.3.1.5. Khả năng hợp tác và làm việc nhóm giữa đội ngũ của TPLPs và khách hàng là chất xúc tác cho đổi mới được thành công

4.3.2. Kết quả thu được đối với vị trí của TPLPs và mối quan hệ giữa TPLPs & khách hàng thông qua dự án đổi mới

4.3.2.1. Sự thay đổi về vị trí của TPLPs thông qua dự án đổi mới
4.3.2.2. Sự thay đổi của mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng thông qua dự án đổi mới

4.3.3. Những sự khác biệt giữa TPLPs là công ty đa quốc gia so với TPLPs của Việt Nam khi tiến hành dự án đổi mới trong mối quan hệ với khách hàng

4.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

5.2. Một số giải pháp đối với các TPLPs Việt Nam để tạo ra và duy trì đổi mới trong mối quan hệ hợp tác cùng với khách hàng

5.2.1. Cơ sở thực hiện các giải pháp

5.2.2. Đối tượng và kỳ vọng của giải pháp

5.2.3. Nội dung giải pháp

5.2.3.1. Huấn luyện tạo nền tảng kiến thức chung cho nhân viên
5.2.3.2. Xây dựng văn hóa đổi mới trong TPLPs & nhấn mạnh vai trò của nhà lãnh đạo
5.2.3.3. Áp dụng hệ thống công nghệ thông tin
5.2.3.4. Lồng ghép nhân viên làm việc giữa TPLPs và khách hàng
5.2.3.5. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về khách hàng
5.2.3.6. Thiết lập các kênh chủ động nhận phản hồi từ khách hàng

5.3. Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự đổi mới trong logistics và TPLPs

Sự đổi mới trong logistics là một yếu tố quan trọng giúp các nhà cung cấp dịch vụ Third Party Logistics (TPLPs) nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa, việc cải tiến quy trình và dịch vụ là điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào mối quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng, từ đó làm rõ vai trò của sự đổi mới trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho cả hai bên.

1.1. Định nghĩa và vai trò của TPLPs trong logistics

Third Party Logistics (TPL) là mô hình cung cấp dịch vụ logistics cho các doanh nghiệp khác. TPLPs đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự đổi mới trong TPLPs không chỉ giúp cải thiện dịch vụ mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

1.2. Tình hình hiện tại của ngành logistics tại Việt Nam

Ngành logistics tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, với sự gia tăng của các TPLPs trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc nghiên cứu sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng là cần thiết để tìm ra giải pháp hiệu quả.

II. Thách thức trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng các TPLPs cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác với khách hàng. Những thách thức này bao gồm sự cạnh tranh gay gắt, yêu cầu ngày càng cao từ khách hàng và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ.

2.1. Cạnh tranh trong ngành logistics

Cạnh tranh giữa các TPLPs ngày càng gia tăng, đặc biệt là khi các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam. Điều này đòi hỏi các TPLPs phải không ngừng đổi mới để giữ chân khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ.

2.2. Yêu cầu từ khách hàng ngày càng cao

Khách hàng hiện nay không chỉ tìm kiếm dịch vụ logistics đơn thuần mà còn mong muốn các giải pháp tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Sự thay đổi này đặt ra áp lực lớn cho các TPLPs trong việc cải tiến dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

III. Phương pháp nghiên cứu sự đổi mới trong TPLPs

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính theo tình huống để phân tích sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng. Phương pháp này cho phép khai thác sâu các thông tin và dữ liệu từ thực tiễn, từ đó đưa ra những kết luận chính xác và có giá trị.

3.1. Phương pháp định tính trong nghiên cứu

Phương pháp định tính cho phép nghiên cứu sâu về các hiện tượng trong mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng. Qua đó, các nhà nghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về động lực và yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới trong logistics.

3.2. Tình huống nghiên cứu cụ thể

Nghiên cứu sẽ tập trung vào các tình huống cụ thể giữa APL Logistics và khách hàng Nike, TBS Logistics và APL Logistics, cũng như ICD Tân Cảng Sóng Thần. Những tình huống này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đổi mới trong quan hệ hợp tác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng không chỉ mang lại lợi ích cho các bên mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn ngành logistics. Các TPLPs cần áp dụng những giải pháp đổi mới để duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác bền vững.

4.1. Lợi ích từ sự đổi mới trong TPLPs

Sự đổi mới giúp TPLPs cải thiện chất lượng dịch vụ, giảm chi phí và tăng cường sự hài lòng của khách hàng. Điều này không chỉ tạo ra giá trị cho khách hàng mà còn giúp TPLPs nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.

4.2. Ứng dụng các giải pháp đổi mới

Các TPLPs cần áp dụng các giải pháp như cải tiến quy trình, nâng cao công nghệ thông tin và xây dựng văn hóa đổi mới trong tổ chức. Những giải pháp này sẽ giúp TPLPs duy trì mối quan hệ hợp tác hiệu quả với khách hàng.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu về sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng đã chỉ ra rằng đổi mới là yếu tố then chốt giúp các TPLPs nâng cao khả năng cạnh tranh. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các mô hình đổi mới phù hợp với đặc thù của thị trường Việt Nam.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng là cần thiết để tạo ra giá trị gia tăng cho cả hai bên. Các TPLPs cần chú trọng đến việc cải tiến dịch vụ và quy trình để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới trong TPLPs, cũng như tìm hiểu cách thức các TPLPs có thể áp dụng các mô hình đổi mới hiệu quả hơn trong bối cảnh thị trường Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu về sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa nhà cung cấp dịch vụ third party logitics và khách hàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Khả năng cạnh tranh của TPLPs phụ thuộc vào năng lực tạo ra sự đổi mới của doanh nghiệp và ngược lại sự đổi mới sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho TPLPs (Wagner & Sutter, 2012). Trong lĩnh vực Logistics, đổi mới không chỉ bắt nguồn từ trong nội bộ của doanh nghiệp mà nó còn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa LSPs và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 khách hàng (Walleenburg, 2009). Thông qua các dự án đổi mới cùng khách hàng, các LSPs không chỉ nâng cao được vị thế của mình mà còn tăng cường được mối quan hệ với khách hàng cũng như cải thiện được năng lực hoạt động. Cả Flint & cộng sự (2005) và Walleenburg (2009) đều thống nhất rằng các LSPs cần phải đổi mới hơn nữa trong việc đáp ứng với những thay đổi mà khách hàng phải đối mặt.

Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay những nghiên cứu về đổi mới trong lĩnh vực Logistics vẫn còn rất hạn chế. Nhận thấy những vấn đề trên nên tác giả đã quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu về sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng”, trước hết là để tìm hiểu về sự đổi mới hình thành trong mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng thông qua các tình huống trong thực tế. Từ đó xem xét những nhân tố ngẫu nhiên nào thúc đẩy dự án đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng, kết quả thu được của dự án đổi mới đối với TPLPs và đối với mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng là gì; có sự khác biệt gì giữa một TPLPs là công ty đa quốc gia với một TPLPs là công ty của Việt Nam. Từ các kết luận trên đưa ra các giải pháp và khuyến nghị cho các TPLPs của Việt Nam trong quá trình tạo ra và duy trì đổi mới để cạnh tranh cùng các công ty Logistics nước ngoài.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 2. Những vấn đề lý luận cơ bản: 2. Third Party Logistics (TPL): Có khá nhiều định nghĩa về TPL của các nhà nghiên cứu trên thế giới, trong một số nghiên cứu thì TPL được xem như là sự mở rộng của hoạt động kho vận ra bên ngoài, trong một số nghiên cứu khác thì thuật ngữ này được sử dụng để mô tả hoạt động thuê ngoài của các tổ chức có thể xuyên suốt toàn bộ hoạt động Logistics của họ (Marasco, 2008). Theo Berglund & cộng sự (1999) thì TPL được xem là một hình thức Logistics trong đó nhà cung cấp dịch vụ Logistics (LSPs) thay mặt cho chủ hàng thực hiện việc vận chuyển và lưu kho; có thể kèm thêm các hoạt động tùy biến khác như quản trị hàng tồn kho, hoạt động thông tin liên quan như “track & trace” (hệ thống tra cứu hàng hóa), hoạt động tạo giá trị gia tăng như đóng gói, cài đặt sản phẩm,…; và được đặc trưng bởi điều kiện thỏa thuận hợp tác lâu dài (hợp đồng ít nhất là một năm) để phân biệt với hoạt động giao nhận truyền thống dựa trên các giao dịch ngắn hạn (transaction-by-transaction).

Định nghĩa này nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa chủ hàng và bên thứ ba, khi đem so sánh với các dịch vụ giao nhận vận tải cơ bản, đã có nhiều tùy biến hơn bởi việc mở rộng số lượng dịch vụ và sự lâu dài trong mối quan hệ giữa hai bên. Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2010) thì TPL là một hình thức Logistics trong đó LSPs là người thay mặt cho khách hàng của mình quản lí và thực hiện các dịch vụ Logistics tổng hợp và xuyên suốt, các dịch vụ gia tăng giá trị như lắp ráp, đóng gói, dán nhãn hàng hóa, và trở thành một bộ phận thiết yếu của công ty khách hàng. Theo đó, các nhà sản xuất và bán lẻ quản lí chuỗi cung ứng của mình bằng cách gia tăng thuê ngoài các hoạt động Logistics của mình cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (LSPs), Một LSPs sẽ thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động Logistics cho khách hàng của mình tùy thuộc vào năng lực và loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, từ các dịch vụ như vận chuyển hàng hóa, cho thuê kho bãi,.cho đến việc lắp ráp và cài đặt sản phẩm, thậm chí là vận hành cả chuỗi cung ứng (Lai & LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cộng sự, 2004). Các LSPs quản lí, kiểm soát và thực hiện các dịch vụ Logistics tích hợp vào chuỗi cung ứng của khách hàng được xem là các TPLPs (Wagner & Stutter, 2012).

Theo Bask (2001) thì TPL là một thuật ngữ được sinh ra theo mối quan hệ cặp đôi giữa ba bên là người bán, người mua và TPLPs trong chuỗi cung ứng: (1) Quan hệ giữa người bán và TPLPs, (2) Quan hệ giữa người mua và TPLPs, (3) Quan hệ giữa người mua và nguời bán trong chuỗi cung ứng. TPL được xem như là vị trí mà nhà cung cấp dịch vụ Logistics (LSPs) cung cấp dịch vụ của mình cho hai bên còn lại trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp những mối quan hệ TPL chỉ dừng lại trong mối quan hệ giữa người bán và LSPs hoặc giữa người mua và LSPs, và trong một chuỗi cung ứng có thể có nhiều mối quan hệ ba bên này cùng tồn tại. Khi định nghĩa về TPL thì Bask (2001, trang 474) cho rằng: “Third Party Logistics là những mối quan hệ giữa các bên trong chuỗi cung ứng với các TPLPs, nơi mà các dịch vụ Logistics được cung cấp từ dịch vụ cơ bản đến các dịch vụ tùy chọn, trong ngắn hạn hoặc dài hạn, theo các mục đích về hiệu suất và hiệu quả riêng”.

Đây được xem như là một định nghĩa rộng về TPL, Marasco (2008) cũng cùng thống nhất với định nghĩa trên. Định nghĩa này được tác giả sử dụng xuyên suốt trong luận văn vì nó chỉ ra được bản chất của khái niệm TPL xuất phát từ các mối quan hệ B2B, nơi mà các bên thứ ba đáp ứng đầy đủ các nhu cầu dịch vụ Logistics cho khách hàng trong chuỗi cung ứng, đồng thời nó cũng đề cập đến tiềm năng của việc mở rộng các mối quan hệ này theo phạm vi, nội dung và thời hiệu của các dịch vụ Logistics mà TPLPs cung cấp (Bask, 2001). Theo đó, định nghĩa TPLPs và LSPs được xem là tương đương nhau và được gọi chung là nhà cung cấp dịch vụ Third Party Logistics (TPLPs). Phải lưu ý rằng, theo định nghĩa trên thì TPL là một tập hợp các mối quan hệ ba bên giữa người bán, người mua và TPLPs trong chuỗi cung ứng là chưa đủ.

Như Bask (2001) và Marasco (2008) đã đề cập, hình thức bộ ba này không phải là trường hợp chung cho TPL bởi hầu hết các mối quan hệ ba bên bị che lấp bởi quan hệ giữa người bán và LSPs hoặc giữa người mua và LSPs. Theo đó, hầu hết các nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chỉ tập trung vào giải quyết mối quan hệ hai chiều giữa LSPs với người mua hoặc với nhà cung cấp hàng hóa (Marasco, 2008). Trong luận văn này, khái niệm TPL là mối quan hệ cặp đôi giữa chủ hàng (người bán hoặc người mua) và LSPs trong chuỗi cung ứng cũng sẽ được sử dụng và chấp nhận. Ngày nay, một số chủ hàng còn hướng tới việc sử dụng “one-stop shopping” nghĩa là với chỉ một LSPs đầu mối duy nhất (Lead Logistics Provider) cho tất cả các hoạt động Logistics của mình, để đáp ứng được nhu cầu đó một TPLPs phải đủ khả năng cung cấp các dịch vụ trên diện rộng từ phương diện địa lí cho đến chủng loại dịch vụ với các giải pháp công nghệ tinh vi.

Các TPLPs không đáp ứng được yêu cầu buộc phải thực hiện dịch vụ thông qua các hợp đồng phụ với “Lead Logistics Provider”, đồng thời chấp nhận lợi nhuận cũng như cơ hội phát triển ít hơn (Wagner & Stutter, 2012). Do đó, ngoài ba mối quan hệ mà Bask (2001) đã đề cập đến thì còn xuất hiện thêm mối quan hệ phụ giữa TPLPs và Lead Logistics Provider, lúc này Lead Logistics Provider sẽ đóng vai trò là khách hàng của TPLPs, và cả TPLPs lẫn Lead Logistics Provider đều cung cấp dịch vụ của mình cho chủ hàng mặc dù bản chất của Lead Logistics Provider cũng là một TPLPs xét trong mối quan hệ với chủ hàng. Vì vậy, khái niệm TPL là mối quan hệ cặp đôi giữa một TPLPs với một Lead Logistics Provider cũng được chấp nhận trong luận văn này. Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, nhằm chỉ những hoạt động của con người làm thay đổi những cái cũ, lạc hậu bằng cái mới tiến bộ hơn (Phạm Thị Phượng Linh, 2012).

Theo Roger (2005) thì đổi mới là một ý tưởng, một chủ thể hoặc quy trình được xem là mới với cá nhân hoặc tổ chức. Khi nhắc đến đổi mới mọi người thường nhầm lẫn giữa các khái niệm: sáng tạo (creativity), đổi mới (innovation) và sáng chế (invention) với nhau. Sáng tạo chỉ là một ý tưởng, một hành động mang tính khác lạ, chưa mang tính thực tiễn, đổi mới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 là việc thực hiện một thứ gì đó mới và mang tính thực tiễn, còn sáng chế là việc tạo ra một cái gì đó mà chưa từng có trước đó đồng thời nó được công nhận là một sản phẩm chứa đựng hiểu biết sâu sắc và có tính độc đáo (Paul Sloane, 2012). Ví dụ: trong một buổi họp của công ty, mỗi người đề xuất một ý tưởng về sản phẩm sắp tới của công ty và có nhiều ý kiến được đưa ra.

Các ý kiến này chỉ là sự sáng tạo, cho đến khi một ý tưởng được chọn ra và thực hiện thì lúc này mới là đổi mới, vì vậy mọi sự đổi mới đều là sáng tạo. Mỗi một sự cải tiến, một sáng chế đều được xem là đổi mới. Nhưng không phải đổi mới nào cũng là sáng chế vì sáng chế phải sản phẩm hoặc là cái chưa từng có trước đó. Một sự đổi mới không nhất thiết phải là mới với thế giới mà nó chỉ cần mới đối với người nắm giữ nó mà thôi (Flint & cộng sự, 2005).

Bất kì dịch vụ Logistics nào có tính mới hoặc hữu ích đối với đối tượng mà LSPs hướng tới đều được xem là đổi mới. Các đối tượng này có thể ở trong doanh nghiệp khi đổi mới hướng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động hoặc nằm bên ngoài doanh nghiệp khi đổi mới để phục vụ khách hàng tốt hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ