Tổng quan nghiên cứu

Năm 2017, ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận con số ấn tượng khi đón tiếp và phục vụ khoảng 18,8 triệu lượt khách, khẳng định vị thế cửa ngõ du lịch biển trọng điểm của vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô lượng khách là một nghịch lý kinh tế đáng lo ngại: tổng doanh thu từ hoạt động du lịch toàn tỉnh chỉ đạt khoảng 4.868 tỷ đồng. Khi đặt cạnh tỉnh Quảng Ninh – địa phương chỉ đón 9,8 triệu lượt khách trong cùng năm nhưng đạt doanh thu lên đến hơn 17.000 tỷ đồng, khoảng cách về hiệu quả khai thác kinh tế của Bà Rịa – Vũng Tàu bộc lộ rất rõ ràng. Đóng góp của ngành du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh chỉ dao động ở mức khiêm tốn xấp xỉ 2,8%, chưa tương xứng với vị thế một ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Nghị quyết số 05-NQ/TU và Chiến lược phát triển du lịch quốc gia theo Quyết định số 2473/QĐ-TTg.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ thực trạng lượng khách đông nhưng thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu thấp, sản phẩm du lịch đơn điệu và liên kết chuỗi giá trị còn rời rạc. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích, đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trên cơ sở lý thuyết hiện đại, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách công mang tính khả thi nhằm nâng cao giá trị gia tăng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2005 - 2017 và khảo sát thực nghiệm năm 2017 - 2018. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý tháo gỡ điểm nghẽn cho 167 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký hơn 45.886 tỷ đồng và hơn 9.055 triệu USD, qua đó tái định vị thương hiệu du lịch địa phương trên bản đồ du lịch quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng phân tích dựa trên mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael E. Porter (1990, 1998, 2008). Mô hình này giải thích năng lực cạnh tranh của một cụm ngành thông qua sự tương tác mật thiết giữa 4 yếu tố nội tại: Điều kiện các nhân tố đầu vào (tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, nguồn vốn); Điều kiện về cầu (quy mô, cơ cấu và đặc tính đòi hỏi của du khách); Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan (dịch vụ lưu trú, ẩm thực, giải trí, thể chế đào tạo và xúc tiến); Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và bối cảnh cạnh tranh nội địa. Mô hình cũng tích hợp vai trò điều tiết của Nhà nước và môi trường chính sách công như nhân tố xúc tác then chốt.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương của Porter và Ketels (2010), được hiệu chỉnh bởi Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (2011). Khung phân tích này định vị năng suất tổng thể của địa phương qua 3 tầng bậc: nhóm lợi thế tự nhiên sẵn có, năng lực cạnh tranh cấp địa phương (hạ tầng, chính sách tài khóa, thể chế) và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp (trình độ cụm ngành, chiến lược kinh doanh). Các khái niệm cốt lõi về cụm ngành du lịch, bản chất kinh tế du lịch theo Luật Du lịch năm 2017 và môi trường du lịch bền vững được chuẩn hóa làm thước đo đánh giá thực trạng.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích tổng hợp dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu chuyên gia. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám Thống kê giai đoạn 2005 - 2017 của Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, các báo cáo chuyên đề của Sở Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của UBND tỉnh.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 35 đối tượng chuyên gia. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm chọn ra 10 đại diện lãnh đạo quản lý nhà nước tại các sở, ban ngành liên quan và 25 nhà quản lý cấp cao tại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khách sạn 3 đến 5 sao trên địa bàn tỉnh. Lý do lựa chọn phương pháp định tính và phỏng vấn chuyên gia là nhằm mổ xẻ sâu sắc những hạn chế vô hình trong cơ chế quản lý công, các rào cản thể chế giải phóng mặt bằng và tính liên kết chuỗi giá trị mà các số liệu thống kê định lượng thuần túy không thể phản ánh đầy đủ. Dữ liệu được mã hóa, đối chiếu chéo với các chỉ tiêu quy hoạch để đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu dòng khách du lịch mất cân đối nghiêm trọng giữa khách lưu trú và khách tham quan trong ngày. Trong tổng số 18,8 triệu lượt khách năm 2017, khách nội địa chiếm áp đảo với hơn 18,154 triệu lượt (chiếm trên 96%), trong khi khách quốc tế chỉ đạt hơn 662 ngàn lượt. Đáng chú ý, lượng khách tham quan đi về trong ngày chiếm tới 68% (khoảng 15,38 triệu lượt), tỷ lệ khách có lưu trú chỉ đạt 20% (3,4 triệu lượt). Dù tốc độ tăng trưởng khách quốc tế lưu trú đạt 13,22%/năm nhưng quy mô tuyệt đối còn quá nhỏ bé so với tiềm năng một tỉnh có 305,4 km bờ biển.

Thứ hai, thời gian lưu trú ngắn và mức chi tiêu của du khách ở mức rất thấp. Thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế tại Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ đạt 2,0 ngày và khách nội địa là 1,45 ngày. Con số này thua kém rõ rệt so với các địa phương ven biển miền Trung như Đà Nẵng (4,8 ngày), Quảng Nam (3,9 ngày), Bình Thuận (5,7 ngày) hay Khánh Hòa (6,2 ngày). Mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế đạt khoảng 65 - 80 USD/ngày (tương đương 1,35 triệu đồng), khách nội địa từ 17 - 25 USD/ngày (khoảng 250 ngàn đồng), và khách vãng lai chỉ đạt 3 - 10 USD/ngày. Trong cơ cấu chi tiêu, dịch vụ phòng và ăn uống chiếm tới 58% - 68%, trong khi chi tiêu cho mua sắm chỉ chiếm 1% - 3% và tham quan chỉ chiếm 2% - 5%.

Thứ ba, cơ sở lưu trú cao cấp thiếu hụt và tiến độ triển khai dự án đầu tư du lịch rơi vào tình trạng đình trệ. Toàn tỉnh có 757 cơ sở lưu trú với 15.790 phòng, nhưng chỉ có 374 cơ sở được xếp hạng sao. Khách sạn chuẩn 4 - 5 sao chỉ chiếm 5,37% (gồm 04 khách sạn 5 sao và 16 khách sạn 4 sao), quá thấp so với tỷ lệ 55% tại Đà Nẵng. Trong tổng số 167 dự án đầu tư du lịch được phê duyệt với diện tích 2.689,1 ha, vốn thực hiện của các dự án FDI chỉ đạt 754,22 triệu USD (đạt 8,3% tổng vốn đăng ký) và dự án trong nước đạt 9.818,94 tỷ đồng (đạt 21,39%). Toàn tỉnh có tới 82 dự án bị thu hồi và 32 dự án chậm triển khai do vướng mắc bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định của Luật Đất đai.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Lực lượng lao động phục vụ du lịch đạt 18.885 người (7.985 lao động trực tiếp), nhưng tỉnh đang thiếu hụt tới 33% nhân lực chất lượng cao. Tỷ lệ lao động đạt chuẩn nghiệp vụ phục vụ khách quốc tế chỉ đạt 22% (thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 40,6% của Đà Nẵng), trong khi có tới 36% lao động trực tiếp hoàn toàn chưa biết ngoại ngữ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng doanh thu du lịch thấp và thời gian lưu trú ngắn bắt nguồn từ cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Về mặt khách quan, vị trí tiếp giáp TP. Hồ Chí Minh với tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và Quốc lộ 51 được nâng cấp đã rút ngắn thời gian di chuyển xuống dưới 2 giờ, vô tình tạo thói quen du lịch đi về trong ngày. Về mặt chủ quan, sản phẩm du lịch của tỉnh quá nghèo nàn, chủ yếu khai thác tắm biển truyền thống, thiếu vắng các tổ hợp vui chơi giải trí ban đêm, trung tâm thương mại cao cấp và các dịch vụ bổ trợ có khả năng giữ chân du khách.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Vũ Hà Giang (2012) tại Bình Thuận và Phạm Anh Dũng (2017) tại Bà Rịa – Vũng Tàu, luận văn đã làm rõ hơn vai trò quản trị công trong việc định hình năng lực cạnh tranh cụm ngành. Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở tài nguyên mà nằm ở công tác quy hoạch thiếu tính đồng bộ và sự chậm trễ trong việc triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Trong các báo cáo phân tích kinh tế, dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ so sánh cơ cấu chi tiêu của du khách quốc tế và bảng ma trận đối chiếu chỉ số cơ sở hạ tầng du lịch liên tỉnh, giúp làm nổi bật khoảng cách về năng suất giữa các trung tâm du lịch biển.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, xây dựng chiến lược và rà soát quy hoạch tổng thể phát triển du lịch. Sở Du lịch chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tiến hành rà soát 100% các phân khu quy hoạch dọc tuyến ven biển từ Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm đến Bình Châu giai đoạn 2019 - 2025. Mục tiêu cụ thể là tái cấu trúc không gian du lịch theo hướng hình thành các tổ hợp nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế, phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế từ 2,0 ngày lên 3,5 ngày và khách nội địa lên 2,0 ngày trước năm 2025.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế hỗ trợ đầu tư và xử lý dứt điểm các dự án chậm triển khai. UBND tỉnh cần ban hành cơ chế phối hợp liên ngành nhằm tháo gỡ vướng mắc về bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho các dự án quy mô lớn. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ vốn thực hiện của các dự án FDI từ 8,3% lên trên 30% và dự án trong nước từ 21,39% lên trên 50% trong giai đoạn 2020 - 2023. Đồng thời, kiên quyết thu hồi dứt điểm 32 dự án chậm tiến độ kéo dài để tổ chức đấu thầu công khai, lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược có đủ tiềm lực tài chính.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Sở Du lịch phối hợp cùng Hiệp hội Du lịch và các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh xây dựng đề án đào tạo nghề du lịch cho hơn 8.000 lao động trực tiếp giai đoạn 2019 - 2022. Mục tiêu là giảm tỷ lệ thiếu hụt nhân lực chất lượng cao từ 33% xuống dưới 10%, đồng thời nâng tỷ lệ lao động thành thạo ngoại ngữ phục vụ khách quốc tế từ 22% lên 45% nhằm chuẩn bị nguồn lực cho các khách sạn 4 - 5 sao và đón dòng khách quốc tế từ sân bay Long Thành trong tương lai.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững. UBND các thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa và các huyện ven biển cần triển khai thanh tra định kỳ 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, xử lý dứt điểm 552 cơ sở lưu trú vi phạm quy chuẩn kinh doanh trong vòng 12 tháng. Đẩy mạnh bảo tồn hệ sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu (11.392 ha) và Vườn quốc gia Côn Đảo (5.998 ha) để phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái cao cấp gắn với bảo vệ môi trường biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách du lịch (Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND các cấp): Luận văn cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng về tỷ lệ giải ngân dự án 21,39% và 82 dự án bị thu hồi, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội và ban hành các chính sách xúc tiến đầu tư công hiệu quả.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch: Các nhà quản lý doanh nghiệp có thể khai thác số liệu chi tiết về mức chi tiêu 65 - 80 USD/ngày của khách quốc tế và cơ cấu thị trường khách Châu Á (40% - 48%) để tái cấu trúc sản phẩm tour, phát triển các dịch vụ MICE và liên kết chuỗi cung ứng nhằm tối ưu hóa doanh thu.

Nhóm nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng và hạ tầng thương mại: Các tập đoàn đầu tư có thể nhìn thấy cơ hội sinh lời rõ nét từ sự thiếu hụt phân khúc lưu trú 4 - 5 sao (hiện chỉ chiếm 5,37%) và khoảng trống dịch vụ vui chơi giải trí phức hợp để định hình các dự án quy mô lớn đón đầu xu thế hạ tầng giao thông kết nối.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Du lịch học và Kinh tế phát triển: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về việc ứng dụng mô hình Kim cương của Michael Porter trong phân tích cụm ngành cấp địa phương, mang lại nhiều gợi mở về phương pháp luận và kỹ thuật xử lý dữ liệu thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao lượng khách đến Bà Rịa – Vũng Tàu rất lớn nhưng tổng thu từ du lịch lại thấp? Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu khách có tỷ lệ đi về trong ngày chiếm tới 68% (15,38 triệu lượt năm 2017) với mức chi tiêu chỉ từ 3 - 10 USD/khách. Bên cạnh đó, tỉnh thiếu các khu vui chơi giải trí phức hợp và trung tâm mua sắm cao cấp khiến cơ cấu chi tiêu cho mua sắm và giải trí chỉ chiếm dưới 5% tổng chi tiêu của du khách.

Điểm nghẽn lớn nhất trong việc thu hút các dự án đầu tư du lịch tại địa phương là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và sự thiếu đồng bộ của hạ tầng ngoài hàng rào dự án. Việc các văn bản pháp luật về đất đai thay đổi nhiều lần khiến tỷ lệ vốn thực hiện của các dự án FDI chỉ đạt 8,3% và dự án nội địa đạt 21,39%, dẫn đến 82 dự án bị thu hồi.

Nguồn nhân lực du lịch của tỉnh hiện nay đang gặp phải những hạn chế nào? Ngành du lịch tỉnh đang thiếu hụt khoảng 33% nhân lực chất lượng cao về nghiệp vụ và ngoại ngữ. Tỷ lệ lao động đạt chuẩn phục vụ khách quốc tế chỉ đạt 22% (thấp hơn nhiều mức 40,6% tại Đà Nẵng), trong khi có tới 36% lao động trực tiếp chưa qua đào tạo ngoại ngữ, gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ.

Khoảng cách giao thông gần với TP. Hồ Chí Minh tạo ra cơ hội hay thách thức cho du lịch tỉnh? Đây là tác động hai mặt. Tuyến cao tốc giúp tỉnh dễ dàng thu hút hàng chục triệu lượt khách từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng việc đi lại quá nhanh khiến du khách có xu hướng không lưu trú qua đêm. Thời gian lưu trú bình quân của khách nội địa chỉ đạt 1,45 ngày, làm sụt giảm nguồn thu từ dịch vụ lưu trú.

Mô hình Kim cương của Michael Porter đóng góp gì cho việc nghiên cứu du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu? Mô hình giúp phân tích toàn diện cụm ngành du lịch không chỉ từ góc độ tài nguyên sẵn có mà còn từ sự tương tác giữa 4 yếu tố nội tại và vai trò của quản lý nhà nước. Từ đó, nghiên cứu chỉ ra rằng nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi phải nâng cao năng suất và tính liên kết chuỗi thay vì chỉ dựa vào số lượng khách đơn thuần.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng cụm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dựa trên khung lý thuyết mô hình Kim cương của Michael Porter và năng lực cạnh tranh địa phương.
  • Làm rõ nghịch lý giữa quy mô đón tiếp 18,8 triệu lượt khách nhưng tổng doanh thu chỉ đạt 4.868 tỷ đồng và mức đóng góp vào GRDP của tỉnh chỉ đạt khoảng 2,8%.
  • Xác định chính xác các điểm nghẽn chiến lược: tỷ lệ khách lưu trú thấp (20%), cơ sở lưu trú 4 - 5 sao ít ỏi (5,37%), tỷ lệ giải ngân FDI chỉ đạt 8,3% và thiếu hụt 33% nhân lực chất lượng cao.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với trách nhiệm của các cơ quan quản lý công, trọng tâm là hoàn thiện quy hoạch phân khu ven biển và tháo gỡ thể chế đầu tư.
  • Vạch rõ lộ trình hành động đến năm 2025 nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng du lịch từ chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao năng suất cụm ngành bền vững.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp các nhà hoạch định chính sách công tái cơ cấu ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu theo hướng chất lượng cao. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác chi tiết các bảng biểu, số liệu phân tích chuyên sâu trong toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản trị và đầu tư.